Chỉ Số Xét Nghiệm Gan Bình Thường Và Sự Thay Đổi Của Chỉ Số Xét Nghiệm Gan Trong Bệnh Lý

[banner id="7762"]

Chỉ Số Xét Nghiệm Gan Bình Thường Và Sự Thay Đổi Của Chỉ Số Xét Nghiệm Gan Trong Bệnh Lý

Chỉ số xét nghiệm gan bao gồm các chỉ số xét nghiệm men gan, chỉ số Bilirubin, Protein gan, tiểu cầu,…- là những chỉ số quan trọng giúp ích cho bác sĩ trong việc đánh giá chức năng của gan và đánh giá được các tổn thương của gan. Chỉ số xét nghiệm gan hỗ trợ chẩn đoán xác định, theo dõi tiến triển của các bệnh về gan như: men gan cao, viêm gan, xơ gan, ung thư gan,… Vậy chỉ số xét nghiệm gan bình thường là bao nhiêu? và chỉ số xét nghiệm gan thay đổi như thế nào khi có bệnh về gan? Hãy cùng THteashop tìm hiểu qua bài biết dưới đây nhé !

1. Các chỉ số xét nghiệm gan bình thường gồm những gì ?

Chỉ số xét nghiệm gan là những chỉ số tổng hợp nên từ việc đo nồng độ Enzym, Protein và các chất do gan tạo ra. Những chỉ số này phản ánh một cách chân thực tình trạng sức khỏe của gan, chức năng của gan, đánh giá được mức độ tổn thương của gan.

Chỉ số xét nghiệm gan bình thường.

Chỉ số xét nghiệm gan bình thường

1.1. Chỉ số men gan – Chỉ số xét nghiệm gan bình thường

Men gan có bản chất là các enzym nằm trong tế bào gan. Các enzym này có vai trò như các xúc tác sinh học cho nhiều quá trình hoàn thiện, giúp chuyển hóa và tổng hợp các chất quan trọng cho cơ thể. Người ta thường xác định được các chỉ số men gan qua xét nghiệm máu. Do các chỉ số men gan thường được gan giải phóng vào máu khi các tế gan bị lão hóa hay bị tổn thương.

Chỉ số men gan bình thường có giá trị nhỏ hơn 40 IU/lít ( IU là từ viết tắt của Unidad Internacional là đơn vị quốc tế dùng để đo lường các giá trị như thể tích, lượng chất, khối lượng,… của một chất).

Ở trạng thái sinh lý bình thường của gan, sự lão hóa xảy ra thường khiến các tế bào gan bị tổn thương giải phóng men gan vào máu, nhưng nồng độ men gan thường nhỏ hơn < 35 IU/lít nên không ảnh hưởng nhiều đến gan và không đủ để gây nên tình trạng men gan cao.

Trong trường hợp bệnh lý của gan như: viêm gan, xơ gan, gan nhiễm mỡ, suy gan hay ung thư,… các tế bào gan bị tổn thương với số lượng lớn và giải phóng nhiều enzym men gan vào trong máu gây nên tình trạng men gan cao. Do vậy các chỉ số men gan có một vai trò quan trọng việc đánh giá các tổn thương và chức năng của gan.

Chỉ số men gan có nhiều loại nhưng trong các xét nghiệm gan người ta thường quan tâm đến 4 chỉ số men gan chính như: AST, ALT, GGT, ALP.

>>>> Tìm hiểu về: Xét nghiệm men gan là gì và khi nào cần xét nghiệm men gan

Chỉ số xét nghiệm gan bình thường - AST, ALT.

Chỉ số xét nghiệm gan bình thường – AST, ALT

1.1.1. Chỉ số men gan ALT

ALT ( hay còn gọi là SGOT _ Serum Glutamic Oxaloacetic Transaminase) là enzym có mặt nhiều nhất trong bào tương của tế bào gan. Ngoài gan ALT cũng hiện diện trong một vài cơ quan khác: tim, thận, tuyến tụy, cơ nhưng với nồng độ nhỏ.

Chỉ số men gan ALT là chỉ số có ý nghĩa quan trọng nhất giúp đánh giá chức năng gan một cách chính xác hơn 3 chỉ số còn lại. Do nồng độ ALT rất nhạy cảm và đặc hiệu trước sự thay đổi của gan.

Chỉ số men gan ALT bình thường có giá trị dao động trong khoảng: 7-56 IU/lít huyết thanh.

1.1.2. Chỉ số men gan AST

AST (SGPT _ Serum Glutamic Pyruvic Transaminase) là một enzym hiện diện nhiều chủ yếu ở tim và gan.Nhưng lượng AST tìm thấy ở gan thường thấp hơn lượng ALT.

Ngoài ra AST cũng xuất hiện trong các cơ quan khác: thận, cơ và tụy. Chỉ số men gan AST bình thường có giá nằm trong khoảng từ:  5-40 IU/lít huyết thanh.

1.1.3. Chỉ số men gan GGT

GGT là từ viết tắt của Gamma Glutamyl Transferase là enzyme thuộc nhóm phức hợp cấu trúc Glycoprotein màng, nên enzym GGT có mặt nhiều trong các tế bào thành ống mật. Vai trò chính của GGT là enzym xúc tác cho chuyển hóa Gamma Glutamyl thành chuỗi polypeptide, các phân tử acid amin và nước.

Chỉ số men gan GGT bình thường có giá trị nằm trong khoảng từ 7-32 IU/ lít huyết thanh đối với nữ và 11-50 IU/ lít huyết thanh đối với nam.

1.1.4. Chỉ số men gan ALP

ALP là từ viết tắt của Alkaline Phosphatase hay còn gọi là Phosphatase kiềm là một enzym tham gia vào các phản ứng chuyển hóa kẽm trong cơ thể. Chỉ số ALP có ý nghĩa trong đánh giá các tổn thương của gan khi các tổn thương này có liên quan đến tình trạng ứ mật ở tại gan hoặc ngoài gan.

Chỉ số men gan ALP bình thường có giá trị nằm trong khoảng từ 45-115 IU/lít huyết thanh.

1.2. Chỉ số Bilirubin – Chỉ số xét nghiệm gan bình thường

Bilirubin là sắc tố vàng có nguồn gốc từ phản ứng giáng hóa nhân Hem. Nhân Hem lại có nguồn gốc từ sự phân hủy của hồng cầu sau chu trình 120 ngày.

Sự giáng hóa nhân Hem tạo thành các Bilirubin tự do và các bilirubin này độc đối với cơ thể. Gan là cơ quan duy nhất đảm nhiệm vụ chuyển hóa Bilirubin tự do thành Bilirubin liên hợp với acid Glucuronic nhờ cơ chế khử độc của gan. Các Bilirubin liên hợp không đối với cơ thể. Do vậy có thể dùng chỉ số Bilirubin để đánh giá chức năng của gan.

  • Ở người có chức năng gan bình thường toàn bộ Bilirubin tự do sẽ được chuyển hết thành Bilirubin dạng liên hợp do vậy chúng không gây nên bất thường nào cho cơ thể.
  • Ở người có chức năng gan không tốt khả năng chuyển hóa Bilirubin giảm nên Bilirubin tự do vẫn còn và có thể đi từ gan ra máu. Chúng gây nên những bất thường cho cơ thể như: vàng da, vàng mắt, phân nhạt màu, nước tiểu có màu vàng sẫm.

Chỉ số Bilirubin bình thường được chia thành 3 nhóm:

  • Bilirubin toàn phần: 0.8 – 1.2 mg/dL
  • Bilirubin trực tiếp (Bilirubin tự do): 0.2 – 0.4 mg/dL
  • Bilirubin gián tiếp (Bilirubin liên hợp): 0.6 – 0.8 mg/dL
Chỉ số xét nghiệm gan bình thường - Bilirubin.

Chỉ số xét nghiệm gan bình thường của nồng độ bilirubin trong máu

1.3. Chỉ số Protein gan 

Gan là tạng lớn đảm nhiệm vai trò quan trọng chuyển hóa các chất dinh dưỡng thiết yếu cho cơ thể. Trong đó có Protein, Protein là một chất quan trọng là thành phần cấu trúc của hầu hết tế bào trong cơ thể. 50% lượng protein trong cơ thể có được là nhờ sự chuyển hóa protein của gan.

Các Protein được tổng hợp từ gan: Albumin, Globulin miễn dịch, Fibrinogen, các yếu tố đông máu II, VII, IX, X,… Ngoài khả năng tổng được Protein, gan còn thực hiện được các phản ứng giáng hóa Protein.

1.3.1. Albumin.

100% lượng Albumin trong cơ thể là do gan tổng hợp. Khi gan bị tổn thương sẽ làm giảm khả năng tổng hợp Albumin hay nặng hơn có thể làm mất khả năng tổng hợp Albumin. Do vậy nồng độ Albumin thường giảm. Để xác định sự thay đổi của nồng độ Albumin ta thường đối chiếu với chỉ số Albumin bình thường là khoảng 35-55 g/L.

  • Chỉ số Albumin < 35 g/dL nói lên người bệnh bị mắc bệnh gan mạn tính chức năng gan suy giảm, tình trạng gan bị xơ.
  • Chỉ số Albumin thấp không chỉ trong bệnh gan mà do lượng Protein cung cấp vào cơ thể từ quá trình ăn uống là không đủ hay trong các bệnh về đường tiêu hóa, khả năng tiêu hóa kém.

1.3.2. Globulin miễn dịch

Globulin miễn dịch có bản chất là phân tử Protein, có vai trò quan trọng tạo ra các đáp ứng miễn dịch bảo vệ cơ thể. Một phần nhỏ lượng Globulin miễn dịch được tổng hợp từ gan và phần còn lại được tạo ra từ tế bào Lympho B của hệ miễn dịch. Chỉ số Globulin miễn dịch bình thường nằm trong khoảng từ 20-35 g/L.

Chỉ số Globulin miễn dịch thường tăng cao khi người bệnh bị nhiễm viêm gan (điển hình là viêm gan B). Trong đó nồng IgM thường tăng cao trong trường hợp viêm gan B cấp tính, nồng độ IgG tăng cao trong trường hợp bị viêm gan B giai đoạn mạn tính.

1.3.3. Fibrinogen và các yếu tố đông máu II, VII, IX, X

Cùng với các yếu tố đông máu II, VII, IX, X, Fibrinogen là yếu tố quan trọng giúp hình thành nên cục máu đông. 9-11 giây là thời gian cần thiết để Fibrinogen có thể tạo nên cục máu đông. Chỉ số Fibrinogen bình thường nằm trong khoảng từ 200-400 mg/dL. Chỉ số này cần được duy trì trong ngưỡng an toàn

Chỉ số Fibrinogen trong huyết tương thấp thường gây nhiều khó khăn trong việc hình thành cục máu đông, thời gian chảy máu kéo dài gây mất nhiều máu. Ở những người mắc bệnh gan nặng thường giảm tổng hợp Fibrinogen do vậy chỉ số Fibrinogen giảm.

Chỉ số Fibrinogen trong huyết tương cao khiến cục máu đông được hình thành một cách dễ dàng, xuất hiện trong lòng mạch gây nên tắc nghẽn mạch máu. Ở những người bị bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim, huyết áp,… người bệnh sau phẫu thuật hay bị chấn thương thường có chỉ số Fibrinogen trong huyết thanh cao.

>>>> Tìm hiểu thêm ngay: Đường Mật Trong Gan Và Các Bệnh Liên Quan

1.4. Tiểu cầu 

Tiểu cầu (Platelets) là một loại tế bào máu cơ bản trong cơ thể người có khả năng tạo ra cục máu đông. Trong các loại tế bào máu thì tiểu cầu là tế bào có kích thước nhỏ nhất với đường kính khoảng 2 μm.

Dưới kính hiển vi tiểu cầu chỉ là các hạt nhỏ có màu tím. Tiểu cầu được sinh ra từ tủy xương và được dự trữ chủ yếu ở lá lách. Chỉ số tiểu cầu bình thường có giá trị trong khoảng từ 150.000-400.000 tế bào/μL máu.

Chỉ số tiểu cầu thường giảm ở những người có bệnh về gan như xơ gan – chức năng gan bị suy giảm do tế bào gan bị tổn thương. Để bù trừ lại phần tế bào gan bị tổn thương thì lách thường phải làm việc nhiều hơn. Do vậy lách bị to ra và khiến số lượng tiểu cầu giảm.

2.  Chỉ số xét nghiệm gan bình thường thay đổi như thế nào khi có bệnh về gan

2.1. Sự thay đổi của chỉ số men gan AST, ALT

Trong bệnh lý viêm gan, xơ gan, ung thư gan,… gan thường phải đối mặt với sự tổn thương của các tế bào gan, giải phóng men gan AST, ALT vào huyết tương. Điều này khiến cho các chỉ số AST và ALT trong huyết tương tăng cao.

Chỉ số men gan GGT.

Chỉ số men gan GGT

Cần thiết đo chỉ số men gan khi cơ thể xuất hiện các dấu hiệu sau: vàng da, vàng mắt, nước tiểu sẫm màu, phân nhạt màu, vùng hạ sườn thấy đau, xuất hiện cảm giác buồn nôn và nôn.

Trong kết quả xét nghiệm để nhận định một cách chính xác nhất về chức năng của gan các chuyên gia thường dựa vào cả hai chỉ số AST và ALT (chủ yếu là chỉ số ALT do chỉ số này đặc hiệu với gan hơn, tăng trong hầu hết các trường hợp tổn thương gan). Còn chỉ số AST ngoài tăng khi tế bào gan bị tổn thương mà nó còn tăng khi cơ thể có những vận động mạnh.

Các chỉ số Transaminase – AST, ALT không chỉ thay đổi trong các bệnh về gan mà còn có sự thay đổi tùy thuộc vào:

  • Giới tính (chỉ số enzym Transaminase ở nam giới thường cao hơn nữ)
  • Chủng tộc (có sự khác nhau về chỉ số men gan AST và ALT giữa những chủng người da trắng và chủng người da màu gốc Phi)
  • Thời gian sinh lý trong ngày (qua thực tế đo chỉ số AST, ALT trong một ngày có thế thấy rõ rệt sự khác nhau khi đo vào buổi sáng, buổi chiều và buổi tối).

2.2. Sự thay đổi của tỷ lệ AST/ALT phản ánh điều gì?

  • Chỉ số AST bình thường: 5-40 IU/lít huyết thanh.
  • Chỉ số ALT bình thường: 7-56 IU/lít huyết thanh.

Do vậy tỷ lệ AST/ALT thường nhỏ hơn hoặc xấp xỉ bằng 1. Chỉ số AST/ALT tương đối nhạy và phản ánh các bệnh gan:

  • AST/ALT > 1 phản ánh các tổn thương gan nặng và bệnh gan mạn tính như: viêm gan C mạn tính, xơ gan, ung thư gan,…
  • AST/ALT > 2 phản ánh tình trạng viêm gan do rượu.

2.3. Sự thay đổi của chỉ số GGT, ALP

Hai chỉ số GGT, ALT tăng cao nói lên tình trạng tổn thương gan có kèm theo tắc mật hay đường mật bị viêm. Do tình trạng này ảnh hưởng đến sự lưu thông của dịch mật trong đường mật. Điều này làm cho dịch mật có thể bị trào ngược vào gan và có thể đi vào máu khiến nồng độ hai enzym GGT và ALT trong huyết tương cao.

>>>> Xem thêm về: Men Gan Cao Nên Uống Gì Và Ăn Gì

3. Làm như thế nào để đo được các chỉ số xét nghiệm gan bình thường một các chính xác nhất.

Để đo các chỉ số xét nghiệm gan một cách chính xác nhất trước khi lấy máu bệnh nhân cần phải ghi nhớ những điều sau:

  • Khoảng thời gian để lấy mẫu tốt nhất là vào buổi sáng bởi thời gian này có thể đảm bảo được điều kiện bệnh nhân nhịn ăn ít nhất 8h trước khi xét nghiệm và đồng thời vào sáng sớm lượng chất cặn bã và chất độc trong gan ít bởi sau một đêm cơ thể nghỉ ngơi và gan đảm nhiệm nhiệm vụ đào thải chúng ra ngoài.
  • Trong khoảng thời gian trước khi làm xét nghiệm bệnh nhân nên nghỉ ngơi, tránh làm việc nặng bởi có thể sẽ ảnh hưởng đến chỉ số men gan AST.
  • Nếu làm xét nghiệm vào buổi sáng thì bữa tối hôm trước cần chú ý lựa chọn ăn những món ăn dễ tiêu, món ăn thanh đạm ít dầu mỡ, không nên ăn cay và chua.
Chế độ ăn hợp lý không ảnh hưởng đến chỉ số xét nghiệm gan.

Chế độ ăn hợp lý không ảnh hưởng đến chỉ số xét nghiệm gan.

  • Tuyệt đối không sử dụng bia, rượu trước khi làm xét nghiệm ít nhất từ 6-8h.
  • Trong thời gian trước khi lấy máu có sử dụng thuốc gì cần nói với bác sĩ.

Quy trình thực hiện xét nghiệm máu đo chỉ số xét nghiệm gan:

Bước 1: Xác định vị trí tĩnh mạch.

Đa phần các xét nghiệm máu thường được lấy máu tĩnh mạch. Vị trí lấy máu:

  • Đối với người lớn thường lấy máu ở cánh tay
  • Đối với trẻ em rất khó để xác định tĩnh mạch ở cánh tay nên thường được lấy máu ở đầu ngón tay cạnh ngón áp út.

Để tĩnh mạch máu của bệnh nhân nổi lên và có thể thực hiện lấy máu dễ dàng hơn người lấy máu thường garo cánh tay bệnh nhân (dùng dây cột chặt cánh tay ở vị trí trên khuỷu tay 3-5cm)

Bước 2: Sau khi các định được vị trí để lấy máu, dùng cồn 70 độ sát trùng vùng da ở chỗ lấy máu.

Bước 3: Dùng kim tiêm để lấy máu: kiểm tra pitong kim tiêm trước khi lấy máu, đẩy pitong xuống rồi chọc đầu kim tiêm vào tĩnh mạch sau đó kéo pitong lên để lấy máu.

Lấy khoảng từ 1-2ml máu là đủ để thực hiện xét nghiệm máu.

Bước 4: Tháo garo, đặt bông vô khuẩn để cầm máu đồng thời rút kiêm tiêm ra.

Bước 5: Đưa máu vào ống có chứa chất chống đông, ghi tên, tuổi của bệnh nhân, ngày và giờ lấy máu. Sau đó đưa máu đến phòng xét nghiệm, các kỹ thuật viên sẽ thực hiện xét nghiệm cần thiết để cho ra chỉ số xét nghiệm gan. Thông thường sau lấy máu từ 1 đến 2 ngày có thể trả kết quả cho bệnh nhân.

Lấy máu tĩnh mạch.

Lấy máu tĩnh mạch

Chỉ số xét nghiệm gan bình thường có giá trị quan trọng trong việc đối chiếu đánh giá chức năng gan, mức độ tổn thương của tế bào gan. Các chỉ số này thường thay đổi trong các bệnh về gan như: men gan cao, xơ gan, viêm gan, suy gan hay ung thư gan.

Cần thực hiện đo các chỉ số xét nghiệm gan định kỳ trong các trường hợp sau:

  • Những còn có tiền sử gia đình có người mắc bệnh gan (nếu trong gia đình ông, bà, bố, mẹ có người bị bệnh gan thì khả năng mắc bệnh gan cao hơn)
  • Người bị viêm gan A, B, C,…
  • Viêm gan do tự miễn (các tự kháng nguyên là chính các tế bào bạch cầu tấn công vào các tế bào gan)
  • Người bị suy gan.
  • Có khối u ở gan ( dù khối u gan lành tính hay ác tính đều có thể khiến các chỉ số men gan AST, ALT tăng cao).
  • Người uống nhiều bia rượu.
  • Những người có tiếp xúc gần với người bị bệnh viêm gan B.
  • Người thường xuyên hít phải và tiếp xúc với các chất độc hại.
  • Những người có bệnh đái tháo đường

Hy vọng những chỉ số xét nghiệm gan bình thường mà bài viết cung cấp sẽ giúp cho những người có bệnh về gan có thể hiểu được các thông tin trên tờ giấy xét nghiệm gan của mình. Nếu còn thắc mắc hãy gọi ngay vào HOTLINE 18006091 của THteashop để được giải đáp trực tiếp từ các chuyên gia nhé!.

Chia sẻ bài viết


DMCA.com Protection Status
You cannot copy content of this page
Contact Me on Zalo
1800 6091