Chỉ Số Xét Nghiệm Gan, Giải Mã Những Thắc Mắc Liên Quan.

[banner id="7762"]

Chỉ Số Xét Nghiệm Gan, Giải Mã Những Thắc Mắc Liên Quan.

Gan là bộ phận giúp đào thải độc tố bảo vệ cơ thể. Việc thăm khám chức năng gan thường xuyên giúp đảm bảo gan có thể hoạt động một cách hiệu quả nhất. Hiện nay đa phần mọi người rất thắc mắc và không hiểu về những chỉ số xét nghiệm gan. Tuy nhiên nếu có một sự hiểu biết cơ bản về ý nghĩa của những chỉ số xét nghiệm này sẽ giúp việc tương tác với bác sĩ và theo dõi sức khỏe gan tốt nhất. Dưới đây sẽ là những chỉ số xét nghiệm gan thường thấy được THTeashop tổng hợp.

Những chỉ số xét nghiệm gan thường quy.

Những chỉ số xét nghiệm gan thường quy.

1. Cơ sở của các xét nghiệm gan.

Gan có vai trò trong chức năng chuyển hóa( điều hòa chuyển hóa glucid, lipid, protid), chức năng đông máu, tạo mật, vận chuyển nước, enzyme, khử độcNếu chức năng gan kém, những hoạt động trên sẽ bị ảnh hưởng. Giả sử đó là sự rối loạn trong chuyển hóa glucid hay lipid gây ra mỡ máu, đái tháo đường hay gây độc cho cơ thể.

Những xét nghiệm đánh giá chức năng gan đã trở nên phổ biến ở mọi bệnh viện. Những xét nghiệm này giúp thể hiện rõ nhất tình trạng sức khỏe gan thông qua những con số hoặc tỉ lệ. Từ đó đối chiếu với khoảng giá trị tham chiếu mà xác định được vấn đề gặp phải.

Một vấn đề mà nhiều người quan tâm đó là những xét nghiệm này tuân theo cơ sở lý thuyết nào và có thuyết phục. Trả lời cho câu hỏi này, như đã biết gan có chức năng tổng hợp một số enzym của cơ thể, khi tế bào gan bị chết sẽ giải phóng một lượng enzym ra huyết thanh. Định lượng lượng enzym có mặt trong huyết thanh là một cơ sở chẩn đoán bệnh lý về gan.

Mặt khác, khi số lượng tế bào gan giảm, những chất được tổng hợp ở gan( ví dụ đặc trưng như albumin) sẽ giảm từ đó giúp đánh giá được sức khỏe của gan. Việc định lượng enzym trong huyết thanh và sản phẩm chuyển hóa của gan sẽ giúp định khu tổn thương của gan hay tính chất cấp hay mạn của bệnh lý về gan.

Tuy nhiên một khó khăn trong việc xác định tình trạng gan qua định lượng enzym là những enzym này có thể được sản xuất ở những cơ quan khác trong cơ thể. Ví dụ như AST, ALT ngoài được sản xuất ở gan, những enzym này còn được sản xuất ở tim, hồng cầu. 

Tìm hiểu về xét nghiệm gan, có thể chia xét nghiệm gan thành những nhóm nhỏ với mục đích khác nhau. Xét nghiệm định lượng bilirubin máu, sắc tố mật và Urobilinogen- nước tiểu, xét nghiệm về bộ enzym gan, xét nghiệm protein, dẫn xuất nitơ, các chỉ tố HT học của virus viêm gan.

2. Chỉ số xét nghiệm gan qua định lượng bilirubin máu

Trong bài viết này chủ yếu đề cập đến xét nghiệm định lượng bilirubin máu.

Chỉ số xét nghiệm gan bilirubin giúp xác định những vấn đề tại gan như xơ gan, viêm gan

Xơ gan, viêm gan là nguyên nhân gây tăng bilirubin máu

Sau khoảng 120 ngày, tế bào hồng cầu già của cơ thể sẽ bị phân hủy ở lách, tủy xương giải phóng hemoglobin( tạo ra hem, sắt và globin). Nhờ enzyme oxygenase, hem chuyển hóa thành biliverdin sau đó dưới tác dụng của enzyme biliverdin reductase mà thoái hóa thành bilirubin- đây là một chất gây độc cho cơ thể. Gan giữ nhiệm vụ khử độc của bilirubin. Tại gan, bilirubin tự do liên hợp với acid glucorunic để thành bilirubin liên hợp là một hợp chất không gây độc cho cơ thể.

Trong máu ngoại vi, tồn tại cả hai dạng bilirubin tự do và bilirubin liên hợp, gọi tắt bilirubin toàn phần là tổng của hai dạng trên.

Ngoài ra, bilirubin tự do còn được gọi là bilirubin gián tiếp, không thể xét nghiệm được trực tiếp. Bilirubin liên hợp là bilirubin trực tiếp, có thể định lượng trực tiếp thông qua các xét nghiệm hóa sinh.

Thông qua xét nghiệm máu có thể cho biết chỉ số bilirubin toàn phần và bilirubin trực tiếp. Vì vậy người bệnh cần nhịn ăn từ tám đến 12 tiếng trước khi làm xét nghiệm.

Về khoảng tham chiếu kết quả, mỗi bệnh viện hay máy xét nghiệm sẽ có một dải tham chiếu khác nhau, tuy nhiên sự chênh lệch không đáng kể.

Bilirubin toàn phần Người lớn ≤ 17 μmol/L
Trẻ em trên 1 tháng tuổi 5.1 μmol/L – 20.5 μmol/L
Trẻ sơ sinh ≤ 171 μmol/L
Bilirubin trực tiếp ≤ 4,3 μmol/L
Bilirubin gián tiếp ≤ 12,7 μmol/L


Nhìn vào số liệu trên sẽ có nhiều thắc mắc rằng tại sao chỉ số bilirubin của trẻ nhỏ lại cao hơn rất nhiều lần so với người lớn. Bởi vì, ở trẻ sơ sinh chức năng gan chưa được hoàn chỉnh, đây là một lý do khiến lượng bilirubin toàn phần giảm ở người trưởng thành so với trẻ nhỏ.

  • Hiện tượng sinh lý ở trẻ nhỏ phản ánh tình trạng này đó là hiện tượng vàng da ở trẻ sơ sinh.
  • Trẻ sau khi sinh cần theo dõi chỉ số bilirubin thường xuyên( trẻ sinh đủ tháng cần theo dõi trên bảy ngày, trẻ sinh thiếu ngày cần theo dõi ít nhất hai tuần).
  • Chỉ số bilirubin quá cao ở trẻ, nếu không điều trị kịp thời và theo dõi thường xuyên sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của não bộ có thể dẫn đến tình trạng kém phát triển trí tuệ, nặng nhất là tử vong.

Còn ở người lớn, định lượng các chỉ số bilirubin là một trong những chỉ số xét nghiệm gan, giúp theo dõi và chẩn đoán các bệnh lý về gan như xơ gan, viêm gan,… hay những bệnh lý về máu như tan hồng cầu, hồng cầu hình liềm,…

Ở những bệnh nhân có những bệnh lý về gan, những chỉ số bilirubin tăng cao, đặc biệt là tỷ lệ ( bilirubin gián tiếp/ bilirubin trực tiếp) tăng cao do gan không giúp liên hợp bilirubin tự do. Trong trường hợp bệnh lý về gan, bilirubin trực tiếp tăng cao còn bilirubin gián tiếp tăng ít hơn.

3. Chỉ số xét nghiệm gan – Bộ xét nghiệm enzym gan

Những thông số quan trọng trong chỉ số xét nghiệm gan là xét nghiệm định lượng enzym. Bộ xét nghiệm enzym gan rất đa dạng tuy nhiên ứng dụng nhiều nhất hiện nay là xét nghiệm sáu enzym ALT, AST, Cholinesterase, GGT, ALP, GLDH.

Khi khảo sát cả sáu enzym này, việc chẩn đoán xác định bệnh lý về gan mật sẽ cho độ chính xác cao hơn.

Những chỉ số xét nghiệm men gan- Chỉ số xét nghiệm gan

Những chỉ số xét nghiệm men gan- Chỉ số xét nghiệm gan

3.1. Chỉ số xét nghiệm gan ALT

ALT( enzyme Alanine aminotransferase) là enzym xúc tác biến đổi acid amin alanine thành L-glutamate và pyruvate. Mặt khác, ALT cũng là enzym quan trọng trung gian sản xuất năng lượng tế bào. ALT được sản xuất ở gan, tim, hồng cầu nhưng phần lớn được sản xuất tại gan. 

ALT bình thường được giải phóng vào máu với số lượng nhất định( nam từ 10 U/L đến 50 U/L, với nữ ít hơn, chỉ từ 10 U/L đến 35 U/L). Tuy nhiên khi tế bào gan gặp chấn thương, hủy hoại tế bào gan, thoát bào tương thì nồng độ ALT trong máu tăng lên cao. 

Để chẩn đoán tổn thương tế bào gan gặp phải, cần phải xét nghiệm đồng thời chỉ số xét nghiệm gan AST.

3.2. Chỉ số AST- bằng chứng cho biết tình trạng hủy hoại tế bào gan.

AST( Aspartate transaminase) là một enzyme được sản xuất với lượng lớn ở tim, đứng thứ hai là gan, ngoài ra còn được tìm thấy ở cơ, thận, tụy. Khác với ALT, AST trong tế bào gan được tìm thấy chủ yếu ở trong ti thể.

Xét nghiệm chẩn đoán

Xét nghiệm chẩn đoán những bệnh lý về gan

Do đó có thể gọi AST là enzym đại diện cho sự tổn thương sâu của tế bào gan. Khi xảy ra hiện tượng hủy hoại tế bào gan nặng, AST tăng rất cao. Tuy nhiên không thể loại bỏ trường hợp AST tăng cao trong những tổn thương cơ.

Bình thường, nồng độ AST trong máu ngoại vi tương tự như ALT ở nam và nữ. Điểm khác biệt giữa giá trị của chỉ số xét nghiệm gan AST, ALT là ALT đặc trưng cho những bệnh lý về gan hơn so với AST.

Cơ sở cho nhận định ALT đặc trưng với gan hơn so với enzym AST là ALT được sản xuất nhiều nhất tại gan.

Ngoài ra việc xác định tỷ lệ AST/ ALT giúp nhận định những bệnh lý tổn thương gan chính xác hơn.

Trong trường hợp ( AST/ ALT) < 1, thường gặp trong những bệnh lý virus viêm gan xảy ra tình trạng viêm gan cấp tính. Với những bệnh lý cấp tính ở gan, ALT sẽ tăng nhanh, mất kiểm soát hơn so với những bệnh lý mạn tính.

Trong những trường hợp gan bị tổn thương nặng, mạn tính như xơ gan, viêm gan C mạn tính, u gan thì tỷ lệ AST/ ALT ngược lại, ( AST/ ALT) > 1. Tuy nhiên, không thể loại bỏ nghi ngờ về khả năng viêm cơ tim hay viêm đa cơ khi gặp tình trạng này.

Ở những bệnh nhân nghiện rượu là nguyên nhân của bệnh lý về gan thì tỷ lệ ( AST/ ALT) > 2.

>>>Xem thêm: Xét nghiệm men gan là gì? Khi nào cần xét nghiệm men gan?

3.3. Chỉ số ALP trong xét nghiệm gan.

ALP còn được gọi là phosphatase kiềm, có vai trò phân cắt các phân tử protein trong cơ thể, được sản xuất lượng lớn ở gan, một phần nhỏ ở thận, ruột xương. Đặc biệt ở những phụ nữ đang trong thai kỳ, ALT còn được sản xuất ở nhau thai.

Chỉ số ALP phụ thuộc vào giới tính, tuổi tác, chỉ số bình thường của ALP dao động trong khoảng 25 – 100 U/L ở người lớn và dưới 350 U/L ở trẻ nhỏ.

Chỉ số ALP tăng cao trong trường hợp viêm gan, xơ gan, ung thư gan, hoặc những bệnh về xương, cơ hoặc bệnh lý về tim, thận. Do đó khi sử dụng kết quả xét nghiệm ALP để chẩn đoán bệnh lý về gan, bác sĩ cần sàng lọc tránh nhầm lẫn với những bệnh lý cơ, tim khác.

3.4. Chỉ số xét nghiệm gan GGT.

GGT( Gamma Glutamyl Transferase) là một trong ba loại men gan quan trọng AST, ALT. GGT có vai trò trong quá trình vận chuyển nhóm gamma- glutamyl giữa các phân tử acid amin và tổng hợp, phân giải glutathione, thuốc, các chất xenobiotic.

GGT là enzym bề mặt của tế bào đường mật, tăng cao trong một số trường hợp như tổn thương tế bào gan, uống rượu, ngộ độc thuốc, xơ gan. Chỉ số GGT tăng cao là một bằng chứng cho thấy tình trạng uống rượu ở người bệnh.

Bình thường, chỉ số GGT từ  11 U/L đến 50 U/L đối với nam và thấp hơn ở nữ( từ 7 U/L đến 32 U/L).

Về kết quả xét nghiệm GGT, nếu thấy chỉ số tăng trên hai lần so với giá trị tham chiếu bình thường, có thể nghĩ đến bệnh lý gan nhiễm mỡ. Đối với những bệnh nhân xơ gan, nhiễm virus ở gan, uống rượu thì chỉ số GGT sẽ tăng từ 2- 5 lần so với bình thường.

Đặc biệt ở những bệnh nhân nghiện rượu dẫn tới xơ gan hay những bệnh nhân tắc mật, ứ mật, GGT tăng rất cao, trên 5 lần so với chỉ số bình thường.

Tuy nhiên ở những người sử dụng nhiều thuốc như thuốc chống nấm, thuốc chống viêm không steroid, thuốc hạ lipid máu, thuốc kháng sinh, thuốc an thần,… đều có khả năng gây tăng chỉ số GGT.

Do đó khi được hỏi về những loại thuốc hay lượng rượu sử dụng, bệnh nhân cần trả lời thành thật với bác sĩ.

AST, ALT, GGT

Một số men gan tăng cao khi gan bị tổn thương

3.5. Cholinesterase

Cholinesterase là một enzym có khả năng thủy phân acetylcholin, được sản xuất ở gan, não, lách. Cholinesterase được phân chia thành hai nhóm là Acetylcholinesterase (AChE)

Pseudocholinesterase (PChE). AChE có mặt chủ yếu ở tế bào thần kinh, chất xám có tác dụng trong việc giúp dẫn truyền xung động thần kinh đến các sợi cơ. PChE lượng lớn được tìm thấy ở gan, một phần nhỏ ở ruột non, tim, tụy, chất trắng của não.

Ở những bệnh nhân xơ gan hay viêm gan, chỉ số cholinesterase( bình thường nằm trong khoảng 5300 – 12900 U/L) giảm.

3.6. GLDH- chỉ số xét nghiệm gan.

GLDH( Glutamate dehydrogenase) là enzym tham gia vào quá trình khử hóa amin-oxy trực tiếp của acid glutamic tạo NH3 và a-cetoglutarat. Trong tế bào nhu mô gan, GLDH khư trú tại ty thể.

Đây là lý do có thể kết luận khi GLDH tăng cao đồng nghĩa với tình trạng hủy hoại tế bào gan nặng, số lượng tế bào gan bị hủy hoại lớn. Bởi nếu tình trạng hủy hoại tế bào gan nhẹ, GLDH sẽ tăng ít do ty thể chưa bị phá hủy.

>>>Xem thêm: Dấu Hiệu Bệnh Gan Ở Trẻ Em Và Những Kiến Thức Bố Mẹ Không Nên Bỏ Qua

Bộ sáu enzym trên ALT, AST, ALP, GGT, GLDH, Cholinesterase là sáu chỉ số xét nghiệm gan thường quy, giúp đánh giá tình trạng sức khỏe tế bào gan.

4. Chỉ số xét nghiệm protein gan.

Hai protein đặc trưng cho xét nghiệm gan là albumin và globulin. Trong đó albumin đặc trưng cho tế bào gan hơn so với globulin. Bởi gan chịu trách nhiệm sản xuất toàn bộ albumin. Còn với globulin, gan chỉ sản xuất một lượng nhất định.

4.1. Xét nghiệm định lượng albumin trong máu.

Albumin với nồng độ khoảng 45 g/l là protein chiếm tỷ lệ phần trăm lớn nhất trong huyết thanh. Đây là loại protein được tổng hợp duy nhất tại gan, có thời gian bán hủy khoảng 20 ngày.

Trong những bệnh lý về gan như xơ gan, lượng albumin giảm do giảm tổng hợp. Ngoài ra một số nguyên nhân khác khiến giảm lượng albumin như tăng mất albumin( thận hư, viêm ruột, bỏng) hoặc trong những bệnh lý về nhiễm trùng.

Hậu quả của tình trạng giảm albumin kéo dài là gây phù do áp suất keo trong huyết tương giảm khiến dịch có xu hướng đi vào trong khoảng kẽ. Ngoài ra giảm albumin sẽ làm giảm hiệu quả vận chuyển thuốc hay vận chuyển bilirubin tự do về gan. Tình trạng này có khả năng dẫn đến nhiễm độc bilirubin, phân trắng,…

4.2. Định lượng globulin trong máu.

Khi điện di trên giấy tách, globulin được chia thành các dạng là α1 globulin, α2 globulin, β globulin,  γ globulin. Globulin có nhiều vai trò đối với cơ thể, vai trò miễn dịch, vận chuyển các chất,… Vai trò miễn dịch của globulin được thực hiện bởi các tế bào miễn dịch như IgM, IgG, IgE, IgA, IgD.

Xác định tỷ lệ albumin/ globulin viết tắt là A/G có vai trò nhằm xác định tổn thương gan.

  • Tỷ lệ A/ G bình thường nằm trong khoảng 1.3 đến 1.8.
  • Trường hợp tỷ lệ A/ G giảm, trong khi đó G bình thường hoặc giảm nhẹ có khả năng bệnh nhân đang gặp vấn đề sức khỏe về gan. 
  • Tuy nhiên nếu tỷ lệ A/ G tăng mà A bình thường, G giảm mạnh, bệnh nhân có thể mắc các bệnh lý miễn dịch.

Ngoài ra để kiểm tra chức năng gan, các bác sĩ có thể chỉ định những xét nghiệm thăm dò chức năng.

5. Một số nghiệm pháp thăm dò chức năng gan- Chỉ số xét nghiệm gan.

Gan tham gia điều hòa nhiều con đường chuyển hóa trong cơ thể như chuyển hóa glucid, lipid và protid. Để thăm dò chức năng gan, hiện nay có một số những nghiệm pháp được thực hiện.

Đối với vai trò điều hòa đường huyết trong cơ thể, bác sĩ thường sử dụng nghiệm pháp gây tăng glucose máu hoặc galactose niệu. 

  • Với nghiệm pháp gây tăng glucose máu, bệnh nhân sẽ được định lượng glucose máu khi đói, sau đó uống 1 gram glucose/ 1 kg cân nặng. Thực hiện nghiệm pháp trong ba giờ, cứ sau 30 phút lấy máu một lần, vẽ sơ đồ và đánh giá.
  • nghiệm pháp galactose niệu, nghiệm pháp này thường làm vào buổi sáng buổi sáng, cho bệnh nhân uống lúc đói 40g Gal/200ml nước. Sau hai giờ( C2) và bốn giờ( C4) lấy nước tiểu để định lượng Gal.

Ở người có chức năng gan bình thường, giá trị tham chiếu galactose như sau C2 ≤ 6g và C4 ≤ 1,5g. Tuy nhiên với những bệnh nhân có những biểu hiện rối loạn chức năng gan hay tổn thương gan, những chỉ số này thường cao hơn mức bình thường. Nguyên nhân của kết quả này do tế bào gan bị suy giảm thì dẫn tới tốc độ chuyển hóa galactose chậm, vì thế lượng galactose thải qua đường nước tiểu sẽ tăng cao.

Biểu hiện bệnh lý về gan

Cần làm chỉ số xét nghiệm gan khi nào

Mọi người thường không thường xuyên đi khám sức khỏe định kỳ do đó nếu gặp những biểu hiện như vàng da, vàng mắt, bụng chướng cần đi đến bệnh viện để được chỉ dẫn xét nghiệm gan sớm nhất.

>>>Xem thêm: Tìm Hiểu Về Một Số Kết Quả Xét Nghiệm Máu Gan Thường Gặp

Lời kết.

Những chỉ số xét nghiệm gan sẽ phản ánh thực tế chính xác tình trạng sức khỏe gan của mỗi người. Có rất đa dạng nhưng loại xét nghiệm, định lượng chỉ số về gan khác nhau. Tuy nhiên những chỉ số thường gặp đều được THTeashop đề cập đến trong bài viết. 

Nếu có những thắc mắc, băn khoăn về chỉ số xét nghiệm gan hay những bệnh lý gan liên quan hãy gọi ngay đến HOTLINE 18006091 để được các Dược sĩ chuyên gia hàng đầu tại THTeashop tư vấn nhé.

Chia sẻ bài viết


DMCA.com Protection Status
You cannot copy content of this page
Contact Me on Zalo
1800 6091