Chữa Ung Thư Gan Và Các Phương Pháp Hiệu Quả

[banner id="7762"]

Chữa Ung Thư Gan Và Các Phương Pháp Hiệu Quả

Gan là cơ quan quan trọng có nhiệm vụ đào thải các chất độc hại và lọc máu kết hợp với thận. Nó cũng đóng vai trò bổ sung như lưu trữ đường và sản xuất các enzym tiêu hóa. Gan có thể là nguồn gốc chính của ung thư, được gọi là ung thư biểu mô tế bào gan hoặc ung thư gan nguyên phát, nhưng cũng là ung thư di căn bắt nguồn từ các cơ quan khác. Đây được gọi là ung thư gan thứ phát hoặc di căn gan. Việc chữa ung thư gan có thể bao gồm phẫu thuật hoặc ghép gan. Bên cạnh phẫu thuật, các lựa chọn điều trị khác bao gồm liệu pháp thuyên tắc mạch và liệu pháp nhắm mục tiêu, hóa trị và liệu pháp miễn dịch cũng được thực hiện.

chua-ung-thu-gan

Bệnh ung thư gan

1. Chữa ung thư gan – Phẫu thuật 

1.1. Chữa ung thư gan – Cắt một phần gan

Chỉ những người có chức năng gan tốt, đủ sức khỏe để phẫu thuật và những người có một khối u chưa di căn mới có thể tiến hành phẫu thuật này.

Các xét nghiệm hình ảnh, chẳng hạn như CT hoặc MRI được thực hiện đầu tiên để xem liệu khối u có thể được loại bỏ hoàn toàn hay không. Tuy nhiên đôi khi trong quá trình phẫu thuật, khối u có thể được phát hiện là quá lớn hoặc đã di căn xa, dẫn đến không thể thực hiện phẫu thuật như đã được lên kế hoạch.

Hầu hết bệnh nhân ung thư gan đều bị bệnh xơ gan. Ở những người bị xơ gan nặng, việc loại bỏ ngay cả một lượng nhỏ mô gan ở rìa của khối ung thư là không đáng kể so với lượng mô bị xơ hóa, nên gan vẫn không thể thực hiện các chức năng quan trọng.

Những người bị xơ gan thường đủ điều kiện để phẫu thuật nếu chỉ có một khối u, vẫn còn lại một lượng hợp lý (ít nhất 30%) chức năng gan sau khi khối u được cắt bỏ. Các bác sĩ thường đánh giá chức năng này bằng cách ấn định điểm số Child-Pugh, là thước đo xơ gan dựa trên các xét nghiệm và triệu chứng nhất định. Các bệnh nhân thuộc nhóm Child-Pugh A hầu hết có đủ chức năng gan để phẫu thuật.

>>> Xem thêm Những Dấu Hiệu Ung Thư Gan Giai Đoạn Cuối Nguy Hiểm

1.2. Chữa ung thư gan – Ghép gan

Ghép gan cũng là lựa chọn cho một số người bị ung thư gan. Ghép gan là một lựa chọn cho những người có khối u không thể loại bỏ bằng phẫu thuật, do vị trí của khối u hay gan bị tổn thương nặng. Nói chung, cấy ghép được sử dụng để chữa trị những người bệnh có khối u nhỏ (1 khối u kích thước bé hơn 5cm hoặc 2-3 khối u từ 3cm hoặc bé hơn 3cm) chưa phát triển thành các mạch máu lân cận. 

Hầu hết gan được sử dụng để cấy ghép đến từ những người vừa qua đời. Tuy nhiên vẫn có một số bệnh nhân nhận một phần gan từ một người hiến tặng còn sống (thường là họ hàng gần) để cấy ghép. 

Những bệnh nhân cần cấy ghép phải đợi cho đến khi có người hiến gan phù hợp với bản thân, điều này có thể mất quá nhiều thời gian. Trong khi chờ ghép gan, bệnh nhân có thể nhận được các phương pháp điều trị chữa ung thư gan khác, chẳng hạn như thuyên tắc hoặc cắt bỏ. Hoặc các bác sĩ có thể đề nghị phẫu thuật hoặc các phương pháp điều trị khác trước và sau đó tiến hành cấy ghép nếu ung thư tái phát.

chua-ung-thu-gan

Phẫu thuật

2. Chữa ung thư gan – Cắt bỏ

Cắt bỏ là điều trị phá hủy các khối u gan. Những kỹ thuật này có thể được sử dụng cho bệnh nhân có một vài khối u nhỏ hoặc khi phẫu thuật không phải là một lựa chọn tốt (thường là do suy giảm chức năng gan). Có ít khả năng chữa khỏi ung thư hơn phẫu thuật, nhưng vẫn có thể rất hữu ích đối với một số người. Phương pháp điều trị này đôi khi cũng được sử dụng cho bệnh nhân đang chờ ghép gan.

Cắt bỏ tốt nhất được sử dụng cho các khối u có chiều ngang không quá 3cm (hơn một inch một chút). Đối với các khối u lớn hơn một chút (1 đến 2 inch, hoặc 3 đến 5 cm), có thể được sử dụng cùng với phương pháp thuyên tắc mạch. Cắt bỏ thường phá hủy một số mô bình thường xung quanh khối u, nên không phải là một lựa chọn tốt để điều trị các khối u gần các mạch máu chính, cơ hoành hoặc đường mật chính.

Thông thường, cắt bỏ có thể được thực hiện mà không cần phẫu thuật bằng cách đưa kim hoặc đầu dò vào khối u qua da. Kim hoặc đầu dò được dẫn vào vị trí bằng siêu âm hoặc chụp CT. Tuy nhiên, đôi khi để đảm bảo việc điều trị nhắm đúng chỗ, việc cắt bỏ có thể được thực hiện trong phòng mổ dưới gây mê toàn thân và có thể cần một vết rạch (cắt) giống như vết mổ cắt một phần gan. Các phương pháp được sử dụng chủ yếu có:

  • Cắt bỏ tần số vô tuyến 

Cắt bỏ bằng sóng vô tuyến là một trong những phương pháp cắt bỏ phổ biến nhất đối với các khối u nhỏ. Phương pháp sử dụng sóng vô tuyến năng lượng cao. Bác sĩ tiến hành đưa một đầu dò mỏng như kim vào khối u qua da. Sau đó, một dòng điện tần số cao được đưa qua đầu của đầu dò, làm nóng khối u và tiêu diệt các tế bào ung thư.

  • Cắt bỏ bằng vi sóng 

Cắt đốt vi sóng sử dụng năng lượng từ sóng điện từ để làm nóng và phá hủy khối u bằng cách sử dụng một đầu dò.

  • Cryoablation

Quá trình đông lạnh phá hủy khối u bằng cách làm đông lạnh khối u, bằng cách sử dụng một đầu dò kim loại mỏng. Đầu dò được dẫn vào khối u và sau đó khí rất lạnh được đưa qua đầu dò để làm đông cứng khối u, nguyên nhân làm chết các tế bào ung thư.

  • Cắt bỏ bằng etanol

Đây còn được gọi là tiêm ethanol qua da (PEI). Trong quy trình này, rượu đậm đặc được tiêm trực tiếp vào khối u để làm tổn thương các tế bào ung thư.

chua-ung-thu-gan

Chữa ung thư gan – Cắt bỏ

3. Liệu pháp thuyên tắc mạch 

Thuyên tắc mạch là một thủ thuật đưa trực tiếp chất cản quang vào động mạch bên trong gan để ngăn chặn hoặc làm giảm lưu lượng máu đi đến khối u trong gan.

Hầu hết các tế bào gan bình thường được nuôi dưỡng bởi tĩnh mạch cửa, trong khi các tế bào ung thư gan chủ yếu được nuôi dưỡng bởi động mạch gan. Việc chặn một phần của động mạch gan nuôi khối u giúp tiêu diệt các tế bào ung thư, nhưng hầu hết các tế bào gan khỏe mạnh vẫn không bị ảnh hưởng bởi nhận được nguồn cung cấp máu từ tĩnh mạch cửa.

Thuyên tắc mạch là một lựa chọn cho một số bệnh nhân có khối u không thể loại bỏ bằng phẫu thuật. Có thể được sử dụng cho những người có khối u quá lớn để điều trị bằng phương pháp cắt bỏ (thường lớn hơn 5cm). Thuyên tắc mạch có thể làm giảm một số lượng máu cung cấp cho mô gan khỏe mạnh, vì thế có thể không phải là một lựa chọn tối ưu nhất cho một số bệnh nhân có gan bị tổn thương do các bệnh như viêm gan hoặc xơ gan. 

  • Thuyên tắc động mạch xuyên 

Trong quá trình thuyên tắc động mạch xuyên, một ống thông (một ống mềm, mỏng) được đưa vào động mạch ở đùi trong qua một vết cắt nhỏ và luồn vào động mạch gan trong gan. Thuốc thường được tiêm vào mạch máu để giúp bác sĩ quan sát đường đi của ống thông. Khi ống thông được đặt vào vị trí, các hạt nhỏ sẽ được tiêm vào động mạch để bịt kín nó, chặn oxy và các chất dinh dưỡng quan trọng từ khối u.

  • Hóa trị qua động mạch

Hóa trị qua động mạch thường là loại thuyên tắc đầu tiên được sử dụng cho ung thư gan lớn không thể điều trị chữa ung thư gan bằng phẫu thuật hoặc cắt bỏ, kết hợp thuyên tắc với hóa trị. Thông thường, được thực hiện bằng cách cho hóa trị qua ống thông trực tiếp vào động mạch, sau đó cắm lại động mạch, để hóa trị có thể ở gần khối u.

  • Phương pháp tắc mạch phóng xạ

Phương pháp tắc mạch phóng xạ được thực hiện bằng cách tiêm các hạt nhỏ (gọi là vi cầu) có gắn đồng vị phóng xạ vào động mạch gan. Sau khi được truyền vào, các hạt sẽ nằm trong các mạch máu gần khối u, sau đó phát ra một lượng nhỏ bức xạ tới vị trí khối u trong vài ngày. Bức xạ truyền đi một khoảng cách rất ngắn, do đó tác động chỉ giới hạn chủ yếu đối với khối u.

chua-ung-thu-gan

Liệu pháp thuyên tắc mạch

4. Chữa ung thư gan – Xạ trị ung thư gan

Phương pháp xạ trị là cách tiêu diệt tế bào ung thư gan bằng sử dụng các tia năng lượng cao chiếu tập trung. Bức xạ có thể hữu ích trong việc điều trị chữa ung thư gan:

  • Ung thư gan nhưng không thể loại bỏ bằng phẫu thuật
  • Ung thư gan không thể điều trị bằng phương pháp cắt bỏ hoặc thuyên tắc mạch hoặc không đáp ứng tốt với các phương pháp điều trị đó
  • Ung thư gan đã di căn đến các khu vực khác như não, xương
  • Những người bị huyết khối khối u (tập hợp các tế bào ung thư gan) chèn tĩnh mạch cửa.

Xạ trị là tập trung bức xạ từ một nguồn bên ngoài cơ thể vào khối ung thư. Xạ trị cũng giống như chụp X-quang, nhưng bức xạ mạnh hơn. Phương pháp điều trị này không gây đau đớn cho bệnh nhân. Mỗi lần điều trị chỉ kéo dài vài phút, mặc dù thời gian thiết lập đưa vào vị trí điều trị thường mất nhiều thời gian hơn.

Mặc dù các tế bào ung thư gan nhạy cảm với bức xạ, nhưng cần hết sức lưu ý khi lập kế hoạch điều trị để tránh làm tổn thương các mô gan bình thường càng nhiều càng tốt. Kỹ thuật mới hơn bức xạ, chẳng hạn như của bức xạ cơ thể điều trị SBRT, giúp các bác sĩ nhắm mục tiêu các khối u gan đồng thời giảm bức xạ đến các mô khỏe mạnh lân cận. Điều này làm cho việc điều trị hiệu quả hơn và giảm tác dụng phụ.

SBRT cho phép điều trị được hoàn thành trong thời gian ngắn so với EBRT. Sử dụng chùm bức xạ liều cao tập trung được chiếu vào một hoặc một vài ngày. Các tia nhằm vào khối u với nhiều góc độ khác nhau. Loại bức xạ này có thể được sử dụng cho những người bị ung thư nhỏ đang chờ ghép gan.

>>> Xem thêm Ung Thư Gan Giai Đoạn Cuối Có Lây Không Và Cách Điều Trị Như Thế Nào

5. Liệu pháp điều trị bằng thuốc nhắm mục tiêu cho bệnh ung thư gan

Thuốc nhắm mục tiêu hoạt động khác với thuốc hóa trị liệu tiêu chuẩn (được mô tả trong hóa trị ung thư gan ) và thường có các tác dụng phụ khác nhau. Giống như hóa trị, những loại thuốc này đi vào máu và đến hầu hết các khu vực của cơ thể, điều này làm cho chúng có khả năng chống lại các tế bào ung thư đã di căn tới các bộ phận khác của cơ thể. 

5.1. Thuốc ức chế kinase

Kinase là các protein trên hoặc gần bề mặt của tế bào truyền các tín hiệu quan trọng tới trung tâm điều khiển và tiếp nhận của tế bào. Nhiều loại thuốc nhắm mục tiêu được sử dụng để điều trị chữa ung thư gan là chất ức chế kinase. Việc ngăn chặn các protein này thường có thể giúp ngăn chặn sự phát triển của ung thư.

  • Sorafenib (Nexavar) là thuốc viên uống hai lần mỗi ngày. Lenvatinib là một viên thuốc được uống một lần một ngày. Sorafenib có tác dụng tốt hơn ở những người bị ung thư gan do viêm gan C.
  • Regorafenib (Stivarga) và cabozantinib (Cabometyx). Những loại thuốc này có thể được sử dụng để điều trị ung thư gan giai đoạn cuối, thông thường nếu các phương pháp điều trị khác không còn hữu ích. Regorafenib là thuốc viên, thường được uống một lần mỗi ngày trong 3 tuần, sau đó nghỉ một tuần. Cabozantinib là một viên thuốc uống một lần một ngày.

5.2. Kháng thể đơn dòng

Kháng thể đơn dòng là phiên bản nhân tạo của các protein hệ miễn dịch (kháng thể) được thiết kế để gắn vào một mục tiêu cụ thể. Các kháng thể đơn dòng được sử dụng để điều trị ung thư gan ảnh hưởng đến khả năng hình thành mạch máu mới của khối u, khối u quá lớn. Những loại thuốc này thường được gọi là thuốc ức chế sự hình thành mạch .

  • Bevacizumab (Avastin) là một kháng thể đơn dòng nhắm vào yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu – một loại protein giúp hình thành các mạch máu mới. Thuốc này có thể được sử dụng cùng với thuốc điều trị miễn dịch atezolizumab như phương pháp điều trị đầu tiên cho bệnh ung thư gan không thể điều trị bằng phẫu thuật hoặc đã di căn sang các cơ quan khác. Thuốc này được truyền vào tĩnh mạch (IV), thường là 3 tuần một lần.
  • Ramucirumab (Cyramza) là một kháng thể đơn dòng nhắm vào protein thụ thể VEGF trên tế bào, với khả năng ngăn chặn sự tái tạo các mạch máu mới. Thuốc này có thể được sử dụng để điều trị ung thư gan giai đoạn cuối, thường là sau khi một phương pháp điều trị khác ngừng hoạt động. Thuốc này được truyền vào tĩnh mạch (IV), thường là 2 tuần một lần.
Liệu pháp điều trị nhắm mục tiêu

Liệu pháp điều trị nhắm mục tiêu

6. Hóa trị ung thư gan

Hóa trị là điều trị bằng thuốc để loại bỏ các tế bào ung thư. Hóa trị có thể là một trong các lựa chọn cho những bệnh nhân không thể điều trị ung thư gan bằng phẫu thuật, không đáp ứng với các liệu pháp tại chỗ như cắt bỏ hoặc thuyên tắc mạch, hoặc khi liệu pháp nhắm mục tiêu.

Các loại thuốc hóa trị hầu hết lại không có tác dụng hiệu quả đối với bệnh ung thư gan. Những tiến bộ gần đây đã chỉ ra rằng sự kết hợp của nhiều loại thuốc có thể hữu ích hơn so với việc chỉ sử dụng một loại thuốc hóa trị duy nhất. Nhưng ngay cả những sự kết hợp thuốc này cũng chỉ thu nhỏ được một số lượng nhỏ các khối u và các phản ứng thường không kéo dài. Và hầu hết các nghiên cứu cho thấy hóa trị toàn thân không giúp bệnh nhân sống lâu hơn.

Các loại thuốc hóa trị liệu phổ biến nhất để điều trị chữa ung thư gan bao gồm:

  • Gemcitabine (Gemzar)
  • Oxaliplatin (Eloxatin)
  • Cisplatin
  • Doxorubicin (pegylated liposomal doxorubicin)
  • 5-fluorouracil (5-FU)
  • Capecitabine (Xeloda)
  • Mitoxantrone (Novantrone)

Đôi khi, sự kết hợp của 2 hoặc 3 loại thuốc này được sử dụng. GEMOX (gemcitabine cộng với oxaliplatin) là một lựa chọn cho những người khá khỏe mạnh và có thể dung nạp nhiều hơn một loại thuốc. Hóa trị dựa trên 5-FU, chẳng hạn với FOLFOX (5-FU, oxaliplatin và leucovorin) là một lựa chọn khác cho những người bị bệnh gan nặng.

Hóa trị liệu toàn thân

Thuốc được tiêm ngay vào tĩnh mạch (IV) hoặc uống. Những loại thuốc này đi vào máu và đến hầu hết các vùng của cơ thể, có thể làm cho phương pháp điều trị này trở nên hữu ích đối với các bệnh ung thư đã di căn sang các bộ phận khác của cơ thể.

Đối với hóa trị IV, cần có một ống thông lớn hơn và cứng hơn một chút trong hệ thống tĩnh mạch để sử dụng hóa trị. Được gọi là ống thông tĩnh mạch trung tâm (CVC), thiết bị tiếp cận tĩnh mạch trung tâm (CVAD), hoặc đường trung tâm sử dụng để đưa thuốc, chất dinh dưỡng hoặc chất lỏng vào máu. Cũng có thể được sử dụng để lấy máu ra xét nghiệm.

Các bác sĩ cho hóa trị theo chu kỳ, với mỗi giai đoạn điều trị sau đó là thời gian nghỉ ngơi để bệnh nhân có thời gian hồi phục sau tác dụng của thuốc. Chu kỳ thường dài nhất là 2 hoặc 3 tuần. Lịch trình thay đổi tùy thuộc vào loại thuốc được sử dụng. Ví dụ, với một số loại thuốc, hóa trị chỉ được tiêm vào ngày đầu tiên của chu kỳ. Với những người khác, được đưa ra trong một vài ngày liên tiếp hoặc một lần một tuần. Sau đó, vào cuối chu kỳ, lịch hóa trị lặp lại để bắt đầu chu kỳ tiếp theo.

Hóa trị khu vực

Thuốc được đưa trực tiếp vào động mạch dẫn thẳng đến phần cơ thể có khối u, giúp tập trung hóa trị vào các tế bào ung thư trong khu vực đó. Làm giảm tác dụng phụ bằng cách hạn chế lượng thuốc đến phần còn lại của cơ thể. Truyền động mạch gan, hoặc truyền hóa chất trực tiếp vào động mạch gan, là phương pháp hóa trị khu vực có thể được sử dụng cho bệnh ung thư gan.

Hóa trị

Hóa trị

Truyền động mạch gan

Các bác sĩ đã nghiên cứu đưa thuốc hóa trị trực tiếp vào động mạch gan với tốc độ không đổi để xem liệu có thể hiệu quả hơn hóa trị toàn thân hay không. Kỹ thuật này gọi là truyền động mạch gan (HAI), máy bơm được gắn vào một ống thông nối với động mạch gan. Được thực hiện trong khi bệnh nhân được gây mê toàn thân. Hóa trị được tiêm bằng kim qua da vào bể chứa của máy bơm và được giải phóng chậm và đều đặn vào động mạch gan.

Các tế bào gan khỏe mạnh sẽ phân hủy hầu hết thuốc trước khi thuốc có thể đến được phần còn lại của cơ thể. Phương pháp này đưa liều hóa trị vào khối u cao hơn so với hóa trị toàn thân nhưng không làm tăng tác dụng phụ. Các loại thuốc thường được sử dụng cho HAI bao gồm floxuridine, cisplatin và oxaliplatin.

HAI có thể được sử dụng cho những người bị ung thư gan rất lớn mà không thể cắt bỏ bằng phẫu thuật hoặc không thể điều trị hoàn toàn bằng TACE. Kỹ thuật này có thể không hữu ích ở tất cả các bệnh nhân vì nó đòi hỏi phải phẫu thuật để đưa bơm và ống thông vào, một phẫu thuật mà nhiều bệnh nhân ung thư gan có thể không chịu được.

>>> Xem thêm Điều Trị U Gan Như Thế Nào Đối Với Khối U Lành Tính Và Ác Tính

Bài viết trên chia sẻ các phương pháp điều trị chữa ung thư gan. Nếu còn bất cứ thắc mắc gì hãy liên hệ ngay tới Hotline: 18006091, hoặc để lại bình luận bên dưới để được nhận tư vấn, giải đáp từ THTea Shop nhé.

Chia sẻ bài viết


DMCA.com Protection Status
You cannot copy content of this page
Contact Me on Zalo
1800 6091