Điều Trị Viêm Gan B Mạn Tính Và Tiêm Chủng Phòng Ngừa

[banner id="7762"]

Điều Trị Viêm Gan B Mạn Tính Và Tiêm Chủng Phòng Ngừa

Viêm gan B mạn tính là một căn bệnh thầm lặng, diễn ra trong một gian dài và không có triệu chứng hoặc biểu hiện lâm sàng trước khi có những biểu hiện chẳng hạn như xơ gan, bệnh gan mất bù hoặc ung thư biểu mô tế bào gan xuất hiện. Vì vậy cần lựa chọn điều trị viêm gan b mạn tính phù hợp và các chỉ định lâm sàng để bắt đầu điều trị kháng virus cho bệnh nhân mắc HBV mạn tính mang lại hiệu quả tốt nhất và kịp thời cho người bệnh. 

1. Virus viêm gan B lây lan như thế nào?

dieu-tri-viem-gan-b-man-tinh (1)

Bệnh viêm gan b

Viêm gan B lây lan chủ yếu do tiếp xúc với máu hoặc dịch tiết cơ thể bị nhiễm bệnh. Ở những người bị nhiễm, virus có thể được tìm thấy trong máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo,… Viêm gan B không lây lan qua thức ăn, nước uống hoặc tiếp xúc thông thường.

Quan hệ tình dục không an toàn (không dùng bao cao su) có thể khiến nhiều người đứng trước nguy cơ mắc bệnh viêm gan b, nổi bật ở những người đàn ông quan hệ đồng giới, quan hệ tập thể…

Ngoài ra, việc sử dụng kim tiêm bị nhiễm trùng để tiêm những thuốc cấm sử dụng (ma túy), xăm mình, hoặc châm cứu cũng là một phương thức lây nhiễm. Bên cạnh đó, bệnh viêm gan B có thể lây truyền qua việc dùng chung bàn chải đánh răng và dao cạo râu bị nhiễm máu của người bị nhiễm bệnh.

Viêm gan B cũng có thể lây từ mẹ bị nhiễm sang con khi sinh. Tỷ lệ lây truyền viêm gan B từ mẹ sang trẻ sơ sinh là rất cao, và hầu hết tất cả trẻ sơ sinh bị nhiễm virus sẽ phát triển thành viêm gan B. May mắn thay, sự lây truyền có thể giảm đáng kể thông qua dự phòng miễn dịch.

Rất ít trường hợp, viêm gan B có thể lây truyền qua các sản phẩm máu được truyền, gan hiến tặng và các cơ quan khác. Bởi những người hiến máu và nội tạng đã được kiểm tra, đánh giá kỹ lưỡng trước bởi các nhân viên y tế.

>>>Xem thêm: Virus Viem Gan B Lay Qua Duong Nao, Kiến Thức Về Bệnh Viêm Gan B

2. Diễn biến của bệnh viêm gan B mạn tính là gì?

dieu-tri-viem-gan-b-man-tinh (2)

Các giai đoạn tiến triển của bệnh viêm gan b

Quá trình của bệnh viêm gan B mạn tính có thể thay đổi và phụ thuộc vào một số yếu tố. Các yếu tố này bao gồm mức độ nhân lên của virus và khả năng kiểm soát nhiễm trùng của hệ thống miễn dịch. Các giai đoạn có thể tiến triển từ:

Giai đoạn dung nạp miễn dịch

Đối với những người bị nhiễm bệnh khi mới sinh hoặc khi còn nhỏ, hệ thống miễn dịch ban đầu không phản ứng với virus viêm gan B. Giai đoạn nhiễm trùng này được gọi là giai đoạn dung nạp miễn dịch.

Mặc dù mức độ virus cao trong cơ thể, có thể có rất ít bằng chứng về tình trạng viêm và không có triệu chứng. Giai đoạn này thường kéo dài trong nhiều năm, thậm chí lên đến hai hoặc ba chục năm. Giai đoạn dung nạp miễn dịch thường không gặp ở những người bị nhiễm bệnh khi trưởng thành.

Giai đoạn thải trừ miễn dịch 

Trong giai đoạn thải trừ miễn dịch, hệ thống miễn dịch tấn công các tế bào gan bị nhiễm virus viêm gan B để cố gắng loại bỏ virus. Điều này gây ra viêm, tổn thương gan và sự phát triển của các mô sẹo.

Các xét nghiệm máu tiêu chuẩn về gan là bất thường và sinh thiết gan cho thấy tình trạng viêm hoặc hình thành sẹo mô (xơ hóa). Mức độ nghiêm trọng của sự phá hủy tế bào gan, mức độ xơ hóa và thời gian của giai đoạn thải trừ miễn dịch quyết định tình trạng của bệnh viêm gan B mạn tính.

Giai đoạn virus ít hoạt động hơn

Sau giai đoạn thải trừ miễn dịch, nhiễm virus có thể bước vào một giai đoạn kém hoạt động hơn hay được gọi là giai đoạn mang virus bất hoạt.

Trong giai đoạn này, không có triệu chứng gì, nồng độ virus viêm gan B thấp, và các xét nghiệm máu tiêu chuẩn về gan bình thường. Tuy nhiên, ở bệnh nhân bị xơ gan phát triển sớm thì vẫn có thể xuất hiện các triệu chứng của bệnh. 

Đôi khi, trong giai đoạn này virus hoạt động trở lại. Đây được gọi là “cơn bùng phát” và thường đi kèm với các triệu chứng (mệt mỏi, uể oải, suy nhược cơ thể), xét nghiệm máu bất thường ở gan (HBsAg (+) > 6 tháng hoặc HBsAg (+) và Anti HBc IgG (+)) và làm tổn thương thêm gan.

Các đợt bùng phát là do sự kích hoạt lại của hệ thống miễn dịch chống lại virus. Các đợt bùng phát có thể rất nghiêm trọng và dẫn đến hình thành thêm sẹo ở gan.

Những người bị nhiễm bệnh trải qua giai đoạn thải trừ miễn dịch nhẹ và chuyển sang giai đoạn mang virus bất hoạt được gọi là người mang virus viêm gan B khỏe mạnh. Những người này thường có xét nghiệm gan bình thường và không có triệu chứng. Tuy nhiên, họ vẫn có thể truyền nhiễm virus viêm gan B cho người khác.

Nguy cơ người mang virus viêm gan B phát triển thành xơ gan và ung thư tế bào gan là nhỏ.

3. Chẩn đoán viêm gan b mạn tính

Chẩn đoán

Chẩn đoán

Nhiễm viêm gan B được nghi ngờ khi tiền sử bệnh và khám sức khỏe cho thấy các yếu tố nguy cơ lây nhiễm, các triệu chứng và dấu hiệu gợi ý có thể mắc bệnh viêm gan B. Việc chẩn đoán bệnh viêm gan B có thể được thực hiện bằng các xét nghiệm máu cụ thể của virus viêm gan B.

Các dấu hiệu được tìm thấy trong máu có thể xác nhận nhiễm trùng viêm gan B và phân biệt cấp tính với nhiễm trùng mạn tính. Những chất chỉ điểm này là những chất được tạo ra bởi virus viêm gan B (kháng nguyên) và các kháng thể do hệ thống miễn dịch tạo ra để chống lại virus.

Virus viêm gan B có ba loại kháng nguyên mà các xét nghiệm thường được sử dụng đó là kháng nguyên bề mặt (HBsAg), kháng nguyên lõi (HBcAg) và kháng nguyên e (HBeAg).

HBsAg và Anti-HBs

Sự hiện diện của kháng nguyên bề mặt viêm gan B (HBsAg) trong máu cho thấy bệnh nhân hiện đang bị nhiễm virus. HBsAg xuất hiện trung bình bốn tuần sau lần đầu tiên tiếp xúc với virus. Những người hồi phục sau nhiễm trùng viêm gan B cấp tính sẽ loại bỏ HBsAg trong máu trong khoảng bốn tháng sau khi bắt đầu xuất hiện các triệu chứng.

Bệnh nhân phát triển các kháng thể chống đối với HBsAg (Anti-HBs). Anti-HBs cung cấp khả năng miễn dịch hoàn toàn đối với sự nhiễm virus viêm gan B tiếp theo. Tương tự như vậy, những người được tiêm chủng phòng ngừa thành công bệnh viêm gan B sẽ sản sinh ra Anti-HBs trong máu.

Những bệnh nhân không loại bỏ được virus trong đợt cấp tính sẽ phát triển thành viêm gan B mạn tính. Việc chẩn đoán viêm gan B mạn tính được thực hiện khi HBsAg có trong máu ít nhất sáu tháng. Trong viêm gan B mạn tính, HBsAg có thể được phát hiện trong nhiều năm, và Anti-HBs không xuất hiện.

Anti-HBc

Trong bệnh viêm gan cấp tính, một lớp kháng thể sớm (IgM) cụ thể xuất hiện để chống lại kháng nguyên lõi của bệnh viêm gan B (Anti-HBc IgM). Sau đó, một lớp kháng thể khác, Anti-HBc IgG phát triển và tồn tại suốt đời, bất kể bệnh nhân hồi phục hay phát triển bệnh nhiễm trùng mạn tính hay không.

Chỉ kháng thể IgM kháng HBc mới có thể được sử dụng để chẩn đoán nhiễm trùng viêm gan B cấp tính.

HBeAg

Kháng nguyên E viêm gan B (HBeAg) xuất hiện khi virus viêm gan B đang tích cực nhân lên. Ở một số cá nhân bị nhiễm virus viêm gan B, vật chất di truyền của virus đã trải qua một sự thay đổi cấu trúc, được gọi là đột biến tiền lõi.

Sự đột biến này dẫn đến virus viêm gan B không có khả năng sản xuất HBeAg, mặc dù virus đang sinh sản tích cực. Nghĩa là không có HBeAg trong máu của những người bị đột biến, virus viêm gan B vẫn hoạt động trong những người này và họ có thể lây nhiễm cho những người khác.

DNA của virus viêm gan B

Dấu hiệu tốt nhất của sự sinh sản của virus viêm gan B là mức độ DNA của virus viêm gan B trong máu. Việc phát hiện DNA của virus viêm gan B trong mẫu máu, báo hiệu rằng virus đang nhân lên tích cực.

Trong bệnh viêm gan cấp tính, HBV DNA hiện diện ngay sau khi nhiễm bệnh, nhưng sẽ bị đào thải theo thời gian ở những bệnh nhân đã khỏi nhiễm trùng. Trong bệnh viêm gan mạn tính, nồng độ HBV DNA thường tiếp tục tăng cao trong nhiều năm và sau đó giảm xuống khi hệ thống miễn dịch kiểm soát virus.

>>>Xem thêm: Chỉ Số Viêm Gan B Chẩn Đoán Bệnh Phổ Biến Nhất Hiện Nay

4. Điều trị viêm gan b mạn tính 

4.1. Liệu pháp điều trị viêm gan b mạn tính 

dieu-tri-viem-gan-b-man-tinh (4)

Liệu pháp điều trị viêm gan b mạn tính

Có hai lựa chọn điều trị chính là sử dụng thuốc tiêm interferon hoặc liệu pháp kháng virus. Phương pháp điều trị đầu tay là các chất tương tự nucleoside (NAs)(thuốc kháng virus) có hàng rào kháng thuốc cao: tenofovir và entecavir. Một lựa chọn thay thế có thể được sử dụng  là PEG-IFN.

4.1.1. Liệu pháp sử dụng thuốc tiêm Interferon

Việc sử dụng IFN đã được thay thế bằng việc sử dụng PEG-IFN, thuận lợi về việc dùng thuốc hàng tuần và cải thiện hiệu quả. Liều lượng tiêu chuẩn được khuyến nghị của PEG-IFN alfa-2a là 180μg được dùng hàng tuần trong 48 tuần.

Các tác dụng phụ tương tự như IFN thông thường (ví dụ như các triệu chứng giống cúm, mệt mỏi, giảm bạch cầu, khó chịu, rối loạn giấc ngủ và trầm cảm), nhưng không phổ biến. 

Ở những bệnh nhân HBeAg dương tính, sự chuyển đổi huyết thanh HBe xảy ra ở 32% bệnh nhân cho đến 6 tháng sau khi kết thúc điều trị. Việc không ngăn chặn được virus sau 6 tháng là dấu hiệu của sự không đáp ứng và nên ngừng điều trị. PEG-IFN cũng có vai trò trong điều trị bệnh nhân HBeAg âm tính, kiểm soát bền vững sự nhân lên của virus

4.1.2. Liệu pháp kháng virus

Việc ức chế HBV DNA kéo dài, duy trì được điều trị mà không bị kháng thuốc có thể đạt được ở hầu hết bệnh nhân dùng entecavir hoặc tenofovir. Khả năng phải điều trị lâu dài nên được thông báo trước cho bệnh nhân, đặc biệt ở những bệnh nhân trong giai đoạn nhiễm HBeAg âm tính.

Entecavir

Entecavir, một chất tương tự nucleoside có nguồn gốc purin, là một chất ức chế hiệu quả cao sự nhân lên của virus. Liệu pháp entecavir dài hạn (ít nhất 3 năm), giúp đảo ngược quá trình xơ hóa và xơ gan, đồng thời cải thiện mô gan. Có ít tác dụng phụ, phổ biến nhất là nhức đầu, mệt mỏi. Tốc độ thanh thải HBeAg với entecavir tương tự như với các thuốc kháng virus khác. 

Entecavir được khuyến cáo với liều 0,5 mg cho bệnh nhân chưa điều trị. Entecavir không phải là lựa chọn điều trị tốt nhất cho những bệnh nhân đã đề kháng với lamivudine. Ngay cả với liều cao hơn (1,0 mg mỗi ngày), 50% bệnh nhân như vậy sẽ phát triển kháng entecavir trong 5 năm. Điều này là do sự đề kháng chéo một phần giữa lamivudin và entecavir.

Entecavir được chống chỉ định trong thời kỳ mang thai và do đó không phải là lựa chọn tốt ở những phụ nữ trẻ, những người có thể dự định hoặc có thể vô tình có thai.

Sự hấp thu Entecavir bị ảnh hưởng bởi thức ăn, và nên uống thuốc khi đói trước hoặc sau bữa ăn 2 giờ. Yêu cầu về thực phẩm nên thông báo với bệnh nhân trước khi bắt đầu điều trị.

Tenofovir disoproxil fumarate

Tenofovir disoproxil fumarate (DF) là một nucleotide adenin mạch hở có hoạt tính mạnh chống lại HBV được sử dụng rộng rãi trong điều trị nhiễm virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV). Liều khuyến cáo của tenofovir là 300 mg mỗi ngày.

Nguy cơ nhiễm độc thận thấp, tuy nhiên khi điều trị việc theo dõi chức năng thận và nồng độ phosphat huyết thanh là rất quan trọng để tránh tổn thương thận tiến triển. Tenofovir là tác nhân được lựa chọn cho những bệnh nhân kháng lamivudine. Vì lamivudine và tenofovir có những con đường đột biến khác nhau đối với sự kháng thuốc. 

Tenofovir alafenamide

Tenofovir alafenamide (TAF) là một tiền chất mới của tenofovir được phát triển để cho phép phân phối hiệu quả hơn chất chuyển hóa có hoạt tính đến các tế bào đích do đó có khả năng sử dụng liều thấp hơn, mang lại tiềm năng cải thiện tính an toàn. Tenofovir Alafenamide được chỉ định điều trị viêm gan B mạn tính liều thông thường ở người lớn 25mg uống một lần/ngày ngay sau khi ăn.

Tóm lại, đối với hầu hết các cá nhân đang điều trị viêm gan b mạn tính, có thể sử dụng bất kỳ một trong ba tác nhân này. Điều trị kết hợp, bao gồm sử dụng hai thuốc kháng virus viêm gan B đường uống, một thuốc kháng virus cộng với peginterferon.

Thuốc kháng virus đường uống (chất tương tự nucleoside và nucleotide) có những ưu điểm so với liệu pháp điều trị dựa trên interferon bao gồm dễ sử dụng, đáp ứng kháng virus đáng tin cậy, ít tác dụng phụ hơn rõ rệt và khả năng sử dụng cho nhiều bệnh nhân, kể cả những người bị bệnh gan mất bù.

Peginterferon alfa-2a có một số ưu điểm cụ thể so với các chất tương tự nucleoside và nucleotide trong điều trị viêm gan B: Thời gian điều trị cố định, khả năng đáp ứng huyết thanh và virus lâu dài sau khi điều trị và không có nguy cơ kháng thuốc. Các yếu tố liên quan đến khả năng đáp ứng cao hơn với liệu pháp dựa trên interferon là: ALT huyết thanh tăng, mức HBV DNA thấp hơn và kiểu gen HBV thuận lợi.

Chú ý tránh sử dụng bất kỳ phương pháp điều trị dựa trên interferon để điều trị viêm gan b mạn tính ở những người bị bệnh gan mất bù, phụ nữ có thai và những người có biểu hiện ngoài gan liên quan đến HBV.

4.2. Liệu pháp điều trị viêm gan b mạn tính trong các trường hợp đặc biệt 

dieu-tri-viem-gan-b-man-tinh

Điều trị viêm gan b mạn tính

Phụ nữ mang thai có mức HBV DNA lớn hơn 20.000 IU/mL 

Điều trị HBV được chỉ định cho tất cả phụ nữ mang thai có mức HBV DNA lớn hơn 20.000 IU/mL trong ba tháng cuối của thai kỳ. Mục đích của việc điều trị HBV cho người mẹ mang thai có mức HBV DNA cao là để giảm hơn nữa nguy cơ lây truyền chu sinh bằng cách tiêm chủng HBV chủ động và thụ động cho trẻ sơ sinh. 

Những người bị nhiễm HIV và đồng nhiễm HBV

Liệu pháp kháng retrovirus ức chế hoàn toàn để điều trị HIV được khuyến cáo cho tất cả những người nhiễm HIV. Ngoài ra, tất cả những người nhiễm HIV và HBV mạn tính nên được điều trị đồng thời HBV.

Mục tiêu của việc điều trị HBV ở những người đồng nhiễm HIV là giảm nguy cơ mắc bệnh và tử vong liên quan đến gan mà những người đồng nhiễm HIV và HBV mắc phải.

Điều trị kháng virus phải đảm bảo đồng thời điều trị tích cực hoàn toàn HIV và HBV, với một chế độ điều trị lý tưởng bao gồm ba loại thuốc có hoạt tính chống lại HIV ( indinavir, atazanavir, tipranavir) và hai loại thuốc có hoạt tính chống lại HBV (tenofovir và entecavir). 

Những người có nguy cơ tái kích hoạt HBV

Những người có HBV mạn tính không được điều trị hoặc nhiễm HBV trong quá khứ có nguy cơ tái hoạt động của HBV nếu họ dùng thuốc ức chế miễn dịch. Sự tái hoạt của HBV được định nghĩa là sự gia tăng nồng độ HBV DNA so với ban đầu hoặc sự đảo ngược huyết thanh (từ HBsAg âm tính sang HBsAg dương tính). 

Sự tái kích hoạt này là kết quả của việc mất kiểm soát miễn dịch đối với HBV, khả năng sao chép virus ở mức độ cao dẫn đến hoạt động bùng phát viêm. Sự tái hoạt của HBV cũng có thể xảy ra ở những người đang điều trị HCV với các thuốc kháng virus tác dụng trực tiếp.

Trong trường hợp này, bệnh nhân cần được chăm sóc bởi một bác sĩ có kinh nghiệm trong việc quản lý cả hai tình trạng này. Những bệnh nhân có bằng chứng hiện mắc hoặc từng mắc HBV cần được theo dõi và điều trị theo hướng dẫn thực hành lâm sàng hiện có để quản lý nguy cơ HBV tái hoạt động. Xem xét việc bắt đầu điều trị kháng virus viêm gan B, nếu có chỉ định.

Đồng nhiễm virus viêm gan D (HDV)

Đối với những người đồng nhiễm HDV và HBV, peginterferon alfa-2a trong 48 đến 52 tuần được khuyến cáo điều trị cho những người có nồng độ HDV RNA cao. Tuy nhiên, không nên dùng cho những người bị bệnh gan mất bù.

Đối với những người đồng nhiễm HDV và HBV, những người cũng có nồng độ HBV DNA cao, thì entecavir, tenofovir alafenamide, hoặc tenofovir DF nên được thêm vào dưới dạng liệu pháp đồng thời với peginterferon alfa-2a.

Bệnh gan mất bù

Nếu một người bị bệnh gan mất bù, nên nhanh chóng được chuyển đến bác sĩ gan mật để được chẩn đoán điều trị và đánh giá việc cấy ghép gan. Đối với những bệnh nhân này, điều trị bằng thuốc kháng virus đường uống nên được bắt đầu ngay lập tức, với entecavir hoặc tenofovir DF tất cả đều được coi là các lựa chọn điều trị hợp lý.

Ở những bệnh nhân bị bệnh gan mất bù, nên tránh tất cả các liệu pháp điều trị dựa trên interferon.

Mắc một số bệnh biểu hiện ngoài gan

Những người nhiễm HBV có thể phát triển một loạt các biểu hiện ngoài gan gồm viêm mạch, viêm khớp, bệnh thần kinh ngoại biên và viêm cầu thận.

Vì hầu hết các biểu hiện ngoài gan liên quan đến HBV đều qua trung gian miễn dịch, nên việc sử dụng liệu pháp điều trị dựa trên interferon không được khuyến cáo, vì nó có thể làm trầm trọng thêm các biểu hiện ngoài gan.

Do đó, khi điều trị HBV ở một người có biểu hiện ngoài gan, entecavir, tenofovir alafenamide, hoặc tenofovir DF nên được sử dụng.

>>>Xem thêm: Bệnh Viêm Gan B Mãn Tính Và Cách Điều Trị Viêm Gan B Hiệu Quả

5. Tiêm chủng phòng ngừa bệnh viêm gan b?

Tiêm chủng phòng ngừa bệnh viêm gan B

Tiêm chủng phòng ngừa bệnh viêm gan B

Tiêm phòng và điều trị dự phòng sau phơi nhiễm làm giảm đáng kể tỷ lệ lây nhiễm virus viêm gan B. Nguy cơ cũng có thể được giảm bớt bằng cách tránh quan hệ tình dục không được bảo vệ, kim tiêm bị ô nhiễm và các nguồn lây nhiễm khác.

Tiêm chủng phổ viêm gan B được khuyến cáo cho tất cả các trẻ sơ sinh và tất cả trẻ em chưa được tiêm chủng và thanh thiếu niên trẻ hơn 19 tuổi. Đối với người lớn, các vắc xin viêm gan B nên được trao cho những người có nguy cơ nhiễm HBV và cho bất kỳ người có mong muốn bảo vệ cơ thể chống lại nhiễm HBV.

Trẻ sơ sinh 

Tất cả trẻ sơ sinh nên chủng ngừa viêm gan B như một phần của lịch chủng ngừa định kỳ khi mới sinh. Trẻ sơ sinh cần được tiêm chủng 1 mũi vắc xin viêm gan B ngay sau khi sinh, tốt nhất là 24 giờ sau khi sinh.

Số liều vắc xin viêm gan B và thời điểm tiêm vắc xin chính xác khác nhau một chút tùy thuộc vào cân nặng sơ sinh của trẻ sơ sinh, tình trạng HBsAg của người mẹ nếu mắc viêm gan B và loại vắc xin được sử dụng. 

Những người có nguy cơ lây nhiễm HBV do tiếp xúc tình dục

  • Bạn tình của những người dương tính với HBsAg
  • Những người hoạt động tình dục không có mối quan hệ lâu dài, một vợ một chồng (ví dụ: những người có nhiều hơn một bạn tình trong 6 tháng trước đó)
  • Những người đang tìm cách đánh giá hoặc điều trị bệnh lây nhiễm qua đường tình dục
  • Nam quan hệ tình dục đồng giới

Những người có nguy cơ bị lây nhiễm khi tiếp xúc qua da 

Phơi nhiễm qua da là một trong những yếu tố nguy cơ phổ biến nhất đối với việc nhiễm HBV, chủ yếu là do sử dụng ma túy qua đường tiêm chích. Tuy nhiên, có một số nhóm khác, bao gồm nhân viên y tế, những người sống với người được biết là có HBsAg dương tính, cũng có nguy cơ nhiễm HBV qua tiếp xúc qua da.

Sau đây tóm tắt những người nên chủng ngừa viêm gan B do nguy cơ tiếp xúc qua da hoặc niêm mạc:

  • Những người hiện đang hoặc gần đây đã tiêm ma túy
  • Tiếp xúc trong gia đình của những người dương tính với HBsAg
  • Nhân viên chăm sóc sức khỏe và nhân viên an toàn công cộng tiếp xúc với máu hoặc chất dịch cơ thể bị nhiễm máu
  • Người mắc bệnh tiểu đường từ 60 tuổi trở lên theo quyết định của bác sĩ điều trị
  • Du khách quốc tế đến các quốc gia có mức độ nhiễm HBV cao hoặc trung bình
  • Người nhiễm virus viêm gan C

Bài viết trên chia sẻ cho một số thông tin về các liệu pháp điều trị viêm gan b mạn tính. Nếu còn thắc mắc gì hãy liên hệ ngay tới Hotline: 18006091 để được nhóm Dược sĩ, Bác sĩ đến từ THTea Shop giải đáp thắc mắc nhé.

Chia sẻ bài viết


DMCA.com Protection Status
You cannot copy content of this page
Contact Me on Zalo
1800 6091