Dieu Tri Xo Gan Như Thế Nào Và Có Hiệu Quả Không

[banner id="7762"]

Dieu Tri Xo Gan Như Thế Nào Và Có Hiệu Quả Không

Bằng các xét nghiệm: X quang, siêu âm, chụp cộng hưởng từ (MRI) hay thông qua sinh thiết gan mà tình trạng xơ gan có thể được phát hiện chẩn đoán. Elastography là tên gọi của một kỹ thuật hình ảnh mới, kỹ thuật này cũng có thể dùng để chẩn đoán xác định xơ gan nhờ tiến hành siêu âm hoặc MRI. Xơ gan cũng là một bệnh lý liên quan tới lá gan mà ngày nay, khoa học vẫn chưa tìm ra phương pháp chữa trị dứt điểm. Thay đổi lối sống, dùng thuốc điều trị hay ghép gan là 3 phương pháp hay được các bác sĩ khuyến nghị người bệnh thực hiện trong quá trình dieu tri xo gan.

dieu-tri-xo-gan

Bệnh xơ gan

1. Xơ gan là hậu quả tồi tệ tới từ những nguyên do nào?

dieu-tri-xo-gan

Nguyên nhân gây xơ gan

Rượu gây bệnh gan

Sau khi bệnh nhân uống rượu quá nhiều, xơ gan do rượu thường phát triển. Ở mỗi người, lượng rượu có thể gây tổn thương trực tiếp tới lá gan là hoàn toàn không giống nhau. 2-3 ly mỗi ngày là con số biểu thị lượng rượu có khả năng gây ra bệnh xơ gan ở nữ giới và ở nam giới, thì con số này là 3-4 ly mỗi ngày. Sự chuyển hóa bình thường của protein, chất béo và carbohydrate bị ngăn chặn là cách mà rượu tấn công gây thương tổn cho lá gan của bạn.

Viêm gan C

Bệnh xơ gan được gây ra bởi nguyên nhân chính là sự kết hợp tấn công của virus viêm gan C và rượu. Tình trạng viêm và tổn thương với mức độ thấp ở gan sẽ xuất hiện khi mà bạn bị nhiễm loại virus này. Việc phát hiện và điều trị viêm gan C rất quan trọng bởi những tổn thương mà virus viêm gan C gây ra cho lá gan thường tiến triển chậm, âm thầm và kéo dài (có thể lên tới vài năm).

>>>>>> Xem thêm: Tổng Quan Về Viêm Gan C Từ Nguyên Nhân, Đường Lây Truyền Cho Tới Cách Phòng Tránh

Viêm gan B và D

Bệnh xơ gan có lẽ cũng có chút liên quan tới tình trạng nhiễm virus viêm gan B mạn tính. Cũng giống với viêm gan C, viêm gan B đều có khả gây ra xơ gan và hình thành mô sẹo khi nó có khả năng gây viêm và tổn thương gan trong nhiều năm liền. Virus viêm gan D là một loại virus khác cũng có khả năng gây bệnh lý viêm gan. Tuy nhiêm, nó chỉ lây nhiễm được ở những người đã mắc bệnh viêm gan B. Chính vì lý do này mà các đường lây truyền virus viêm gan D có phần tương đồng với virus viêm B, gồm có: qua da, đường tình dục và thông qua tiếp xúc với máu…

Các bệnh lý có tính chất di truyền

Bệnh huyết sắc tố, bệnh Wilson, tình trạng thiếu hụt alpha-1 antitrypsin, bệnh galactosemia là một trong những bệnh di truyền cản trở gan sản xuất, xử lý và lưu trữ các enzym, kim loại, các protein cũng như các hợp chất cần thiết để các hoạt động của cơ thể diễn ra bình thường khác.

Tình trạng lá gan bị viêm nhiễm mỡ không gây ra bởi rượu (NASH)

Trong NASH, mô sẹo sẽ được hình thành ở bên trong các tế bào gan do tình trạng tích tụ lâu ngày của chất béo. Suy dinh dưỡng protein, bệnh tiểu đường, béo phì, bệnh mạch vành là những vấn đề bệnh lý có mối liên hệ mật thiết với loại viêm gan này.

Đường mật bị tắc nghẽn

Dịch mật sẽ trào ngược lên và gây ra những thương tổn cho các mô gan khi các ống dẫn mật ra khỏi gan bị tắc nghẽn. Mất đường mật – một căn bệnh mà đường mật không có hoặc bị thương là nguyên do gây ra tình trạng tắc đường mật thường gặp nhất ở trẻ sơ sinh. Xơ gan mật nguyên phát là cụm từ dùng để mô tả về tình trạng các ống dẫn bị viêm, tắc nghẽn và có sẹo. Đây là nguyên do chủ đạo dẫn tới hiện tượng tắc nghẽn đường mật ở người trưởng thành. Sau khi phẫu thuật cắt túi mật, xơ gan mật thứ phát có thể sẽ xảy ra nếu các ống dẫn mật vô tình bị thắt hoặc bị thương.

Thuốc, chất độc và nhiễm trùng

Tiếp xúc lâu dài với chất độc môi trường, ảnh hưởng của các tác dụng không mong muốn ở một số thuốc kê đơn, nhiễm ký sinh trùng sán máng, tắc nghẽn gan và suy tim lặp đi lặp lại đều có thể dẫn đến xơ gan.

2. Xơ gan – Các dấu hiệu và triệu chứng đại diện bệnh

dieu-tri-xo-gan

Triệu chứng xơ gan

Lá gan của bạn vẫn có thể hoạt động bình thường mặc dù bị tổn thương trong giai đoạn đầu của bệnh. Lâu dần, khi gan bị tổn thương nghiêm trọng hơn, cơ thể bệnh nhân sẽ xuất hiện những biểu hiện triệu chứng đáng chú ý. Các triệu chứng chính gồm có:

  • Tình trạng suy nhược và mệt mỏi đeo bám cơ thể thường xuyên
  • Buồn nôn
  • Cân nặng sụt nhanh do chán ăn
  • Giảm ham muốn với tình dục

Các triệu chứng sẽ ngày càng rõ ràng, dễ thấy hơn khi tình trạng bệnh tiến triển, có thể nhắc tới:

  • Lòng trắng của mắt và da chuyển màu sang vàng
  • Xuất hiện các cơn sốt và run rẩy
  • Nôn mửa
  • Bệnh tiêu chảy
  • Da ngứa ngáy
  • Dạ dày đau, đầy bụng
  • Bầm tím và chảy máu là 2 xu hướng dễ xảy ra
  • Phù chân, mắt cá chân và bàn chân do tích tụ chất lỏng (phù nề)
  • Cân nặng khó kiểm soát
  • Tính cách thay đổi, hay nhầm lẫn, thường xuyên khó tập trung, trí nhớ giảm sút nặng hoặc ảo giác

>>>>>>> Đọc thêm: Xơ Gan Có Bao Nhiêu Giai Đoạn Và Biến Chứng Nguy Hiểm Có Thể Hiện Diện Ở Giai Đoạn Nào

3. Xơ gan và sự nguy hiểm của các biến chứng

Biến chứng

Biến chứng

Biến chứng nghiêm trọng phổ biến nhất của bệnh xơ gan là tình trạng áp lực tĩnh mạch cửa bị tăng lên và là nguyên do kéo theo rất nhiều vấn đề sức khỏe khác như:

  • Giãn tĩnh mạch thực quản, dạ dày hoặc trực tràng và bệnh dạ dày tăng áp lực tĩnh mạch cửa gây chảy máu đường tiêu hóa (GI)
  • Cổ trướng
  • Thận bị tổn thương cấp tính (hội chứng gan thận)
  • Động mạch phổi bị tăng áp
  • Hội chứng gan phổi (shunt trong phổi)

Có thể bị nhiễm trùng dịch cổ trướng (hay còn gọi là viêm phúc mạc do vi khuẩn tự phát). Tăng áp động mạch phổi có thể biểu hiện cùng với các triệu chứng của suy tim. Gây ra bệnh tật và tử vong đáng kể chính là xu hướng mà các biến chứng của tăng áp lực tĩnh mạch cửa tác động ảnh hưởng tới người bệnh.

Một vài biến chứng tim mạch cũng có thể là hệ lụy của xơ gan. Tình trạng thiếu oxy có thể xảy ra do hiện tượng chuyển nhịp từ phải sang trái trong phổi, giãn mạch hay thông khí hoặc tưới máu không phù hợp.

Tình trạng đông máu bị rối loạn, thận bị tổn thương cấp tính (hội chứng gan thận) hay bệnh não gan là những biểu hiện cho thấy chức năng gan của bạn đã và đang bị suy yếu. Tình trạng ứ mật và vàng da được gây ra do lượng mật được các tế bào gan tiết ra ít hơn. Từ đó làm cho lượng mật trong ruột bị giảm đi gây ra tình trạng kém hấp thu chất béo trong chế độ ăn uống (chất béo trung tính) cùng với các vitamin tan trong chất béo. Hấp thu kém vitamin D có thể góp phần gây ra tình trạng cấu trúc xương bị loãng. Kết quả của việc chán ăn khi giảm lượng thức ăn hoặc ở những bệnh nhân bị bệnh gan do rượu do kém hấp thu do suy tuyến tụy chính là tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng.

Chứng cường phong, tan máu, chảy máu mạn tính thường gây ra hệ quả xấu là thiếu máu. Các yếu tố tạo huyết khối và chống huyết khối sẽ bị giảm sản sinh khi lá gan của bạn có những mảng xơ. Quá trình đông máu không được thực hiện do lượng tiểu cầu và các yếu tố đông máu không được sản xuất đầy đủ. Từ đó nguy cơ chảy máu và bệnh huyết khối tắc mạch sẽ gia tăng đáng kể.

Xơ gan thường là nguyên do chủ yếu gây biến chứng ung thư biểu mô tế bào gan, đặc biệt là xơ gan do:

  • Viêm gan B hoặc C giai đoạn mạn tính
  • Hemochromatosis
  • Bệnh gan liên quan tới tình trạng sử dụng rượu
  • Thiếu alpha-1 antitrypsin
  • Bệnh dự trữ glycogen

4. Xơ gan được chẩn đoán theo cách nào

Chẩn đoán

Chẩn đoán

4.1. Cách tiếp cận chung

Ở những bệnh nhân có các triệu chứng không đặc hiệu hoặc các bất thường được phát hiện tình cờ trong quá trình xét nghiệm nên làm các xét nghiệm kiểm tra xơ gan từ sớm. Đặc biệt ở những bệnh nhân bị xơ hóa gan gây ra bởi tình trạng rối loạn hoặc dùng thuốc. Mục đích thực hiện các xét nghiệm là nhằm phát hiện bất kỳ biến chứng nào và xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh.

Việc chẩn đoán được bắt đầu bằng các xét nghiệm gan, xét nghiệm huyết thanh và xét nghiệm đông máu ở những bệnh nhân bị viêm gan virus mạn tính. Tuy nhiên để chẩn đoán hoàn toàn chính xác bệnh nhân đã bị xơ gan chưa thì đôi khi chỉ các xét này là chưa đủ. Do đó, sinh thiết gan là phương pháp chẩn đoán được sử dụng cho kết quả chính xác nhất.

Kết quả xét nghiệm có thể bình thường hoặc có thể diễn tả được những bất thường không đặc hiệu do biến chứng xơ gan hoặc hiện trạng sử dụng rượu bia rối loạn.

  • Thường tăng nhẹ nồng độ alanin aminotransferase (ALT) và aspartate aminotransferase (AST).
  • Alkaline phosphatase và gamma-glutamyl transpeptidase (GGT) thường bình thường; mức độ tăng cao cho thấy có ứ mật hoặc tắc mật.
  • Thường nồng độ bilirubin là bình thường nhưngkhi xơ gan tiến triển nó sẽ tăng, đặc biệt là trong viêm đường mật nguyên phát.
  • Sự suy giảm tổng hợp ở gan được phản ánh trực tiếp qua sự giảm albumin huyết thanh và kéo dài thời gian prothrombin (PT), thường ở giai đoạn cuối. Khi dinh dưỡng kém, albumin cũng có thể thấp.
  • Globulin huyết thanh tăng trong xơ gan và trong hầu hết các rối loạn gan có thành phần viêm.
  • Thiếu máu thường đa yếu tố, các yếu tố góp phần có thể bao gồm xuất huyết tiêu hóa mãn tính (thường gây thiếu máu vi hồng cầu), thiếu folate (gây thiếu máu tế bào vi mô, đặc biệt là khi lạm dụng rượu), tan máu, và chứng cường phong. CBC cũng có thể phát hiện giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu.

>>>>>>> Tìm hiểu thêm: Các Chỉ Số Xét Nghiệm Gan Và Sự Thay Đổi Của Chúng Trong Một Số Bệnh Lý

4.2. Chẩn đoán hình ảnh

Để tự chẩn đoán xơ gan, các xét nghiệm hình ảnh thông thường không có độ nhạy cao hoặc đặc hiệu, nhưng thường không thể phát hiện các biến chứng. Siêu âm đàn hồi, chụp bức xạ và cộng hưởng từ rất hữu ích cho việc phát hiện xơ gan sớm. Siêu âm cho thấy gan có nốt nhỏ trong xơ gan tiến triển, tăng áp lực tĩnh mạch cửa và cổ trướng. Kết cấu dạng nốt cũng được phát hiện qua chụp CT, nhưng không có lợi thế hơn so với siêu âm.

4.3. Xác định rõ nguyên nhân

Thông tin lâm sàng chính từ bệnh sử và thăm khám cũng như xét nghiệm chọn lọc đóng vai trò xác định nguyên nhân cụ thể của xơ gan. Ở những bệnh nhân được ghi nhận có tiền sử nghiện rượu và các phát hiện lâm sàng như nữ hóa tuyến vú và teo tinh hoàn cộng với kết quả xét nghiệm về tổn thương gan (AST tăng cao hơn ALT) và cảm ứng men gan (tăng rất nhiều GGT), rượu có thể là nguyên nhân chính. Sự hiện diện của bệnh viêm gan do rượu được gợi ý bởi sốt, gan to mềm và vàng da. Viêm gan B mãn tính được khẳng định khi phát hiện kháng nguyên bề mặt viêm gan B (HBsAg) và kháng thể IgG kháng viêm gan B (IgG anti-HBc). Chỉ ra bệnh viêm gan C qua việc xác định kháng thể trong huyết thanh (anti-HCV) và HCV-RNA. Các xét nghiệm lâm sàng sau cũng thường xuyên được thực hiện:

Viêm gan thể tự miễn

Sử dụng hiệu giá kháng thể kháng nhân cao (hiệu giá thấp không đặc hiệu và không phải lúc nào cũng bắt buộc phải đánh giá thêm) để gợi ý và tình trạng tăng globulin máu cùng với sự hiện diện của các tự kháng thể khác (ví dụ: chống cơ trơn hoặc kháng gan/ thận loại 1 kháng thể) để xác nhận.

Hemochromatosis

Xác nhận bằng độ bão hòa sắt tăng và transferrin huyết thanh, có thể là kết quả xét nghiệm di truyền.

Thiếu hụt alpha-1 antitrypsin

Được xác nhận bởi định dạng kiểu gen và mức alpha-1 antitrypsin trong huyết thanh thấp.

Nếu không được xác nhận, một số nguyên nhân khác sẽ được đánh giá thêm:

  • Sự hiện diện của các kháng thể kháng tim (trong 95%) gợi ý viêm đường mật nguyên phát .
  • Sự hẹp và giãn của đường mật trong và ngoài gan, được thấy trên phương pháp chụp mật tụy bằng cộng hưởng từ (MRCP), gợi ý viêm đường mật xơ cứng tiên phát.
  • Ceruloplasmin huyết thanh giảm và kết quả xét nghiệm đồng đặc trưng gợi ý bệnh Wilson .
  • Béo phì và tiền sử bệnh tiểu đường gợi ý bệnh viêm gan nhiễm mỡ không do rượu (NASH).

4.4. Sinh thiết gan

Sinh thiết gan thường được thực hiện nếu các tiêu chí lâm sàng và xét nghiệm không xâm lấn không thu được kết luận chính xác. Ví dụ, nên làm sinh thiết để xác định chẩn đoán nếu như nghi ngờ xơ gan còn bù trên lâm sàng và kết quả chẩn đoán hình ảnh không kết luận được,. Độ nhạy của sinh thiết gan đạt 100%. Có thể thấy rõ trên siêu âm bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu gây ra (NAFLD). Tuy nhiên, NASH, thường liên quan đến béo phì, tiểu đường hoặc hội chứng chuyển hóa, cần sinh thiết gan để xác nhận. Trong các trường hợp xơ gan rõ ràng với rối loạn đông máu rõ rệt, tăng áp lực tĩnh mạch cửa, cổ trướng và suy gan, không cần thực hiện phương pháp chẩn đoán này. Phương pháp sinh thiết xuyên cầu là an toàn nhất đối với những bệnh nhân bị rối loạn đông máu và giảm tiểu cầu. Áp suất có thể được đo và từ đó gradient áp suất xuyên hình thang có thể tính được khi phương pháp này được sử dụng

5. Dieu tri xo gan

Điều trị xơ gan

Dieu tri xo gan

Tổn thương gan do xơ gan không thể hồi phục, nhưng việc dieu tri xo gan có thể ngăn chặn hoặc trì hoãn sự tiến triển và giảm các biến chứng của bệnh. Việc điều trị phụ thuộc vào nguyên nhân gây ra xơ gan và bất kỳ biến chứng nào mà một người đang gặp phải. Ví dụ, xơ gan do lạm dụng rượu được điều trị bằng cách kiêng rượu.

5.1. Điều trị và kiểm tra các tác động của bệnh xơ gan

Giải quyết các biến chứng của xơ gan càng sớm càng tốt là một khía cạnh khác của dieu tri xo gan. Vì lý do này, để xác định các vấn đề, bác sĩ có thể đề nghị bệnh nhân làm các xét nghiệm thường xuyên ngay cả trước khi bệnh nhân nhận thấy bất kỳ triệu chứng nào. Để giảm huyết áp, ngăn ngừa và điều trị nhiễm trùng và giúp hỗ trợ các chức năng của cơ thể cũng có thể được sử dụng các loại thuốc khác.

5.2. Tĩnh mạch cửa bị tăng áp lực và bị chảy máu

Các loại thuốc bao gồm thuốc chẹn beta như propranolol có thể làm giảm nguy cơ chảy máu và giảm mức độ nghiêm trọng của bất kỳ trường hợp chảy máu nào. Ví dụ như để ngăn chảy máu tĩnh mạch, liệu pháp tiêm xơ hóa sẽ được sử dụng cùng với đó là việc tiêm một chất vào tĩnh mạch của túi để gây đông máu và mô sẹo. Một thủ thuật khác, sử dụng một ống Sengstaken-Blakemore (SB) được đưa xuống cổ họng vào dạ dày. Với hai quả bóng bay được thổi phồng, thiết bị này tạo áp lực lên các tĩnh mạch và giúp kiểm soát chảy máu. Mọi người được sử dụng nhiều thuốc an thần cho thủ thuật này.

Nếu vẫn không thể kiểm soát được tình trạng chảy máu, có thể cần đến một thủ thuật để giảm áp lực trong tĩnh mạch cửa được gọi là đặt ống stent hệ thống cổng qua đường tĩnh mạch (TIPS). Một ống kim loại (stent) sẽ được đưa qua gan để nối liền hai tĩnh mạch lớn (tĩnh mạch cửa và tĩnh mạch gan) khi quy trình được tiến hành. Điều này làm giảm áp lực gây ra giãn tĩnh mạch bằng cách tạo ra một đường vòng (shunt) để cho máu thuận lợi chảy thẳng vào tĩnh mạch gan.

5.3. Dieu tri xo gan – Cổ trướng và phù ngoại vi

Ở những người bị xơ gan tiến triển, tình trạng phù ngoại vi (sưng ở mắt cá chân và chân) và Cổ trướng (tích nước trong khoang bụng, trông giống như một khối phồng trên vùng bụng) xảy ra rất phổ biến. Sự khó chịu và tình trạng khó thở có thể hiện diện ở người bệnh khi họ bị cổ trướng. Ngoài ra, tính mạng người bệnh có thể bị đe dọa khi có nguy cơ nhiễm trùng dịch cổ trướng, còn được gọi là viêm phúc mạc do vi khuẩn tự phát (SBP). Tình trạng này được điều trị bằng thuốc kháng sinh. Hạn chế natri (chế độ ăn ít muối và uống thuốc lợi tiểu chẳng hạn như spironolactone và furosemide) là biện pháp chính được khuyến nghị để điều trị cổ trướng và phù nề. Một số bệnh nhân nhẹ có thể hút dịch ra khỏi ổ bụng bằng kim và ống, thường cần được lặp lại vài tuần một lần. Những bệnh nhân được coi là có nguy cơ nhiễm trùng cần sử dụng thuốc kháng sinh dự phòng để uống mỗi ngày.

5.4. Dieu tri xo gan – Biến chứng bệnh não gan

Nhiều người có thể mắc bệnh não gan khi bị xơ gan, tuy nhiên, hầu hết tình trạng này lại không được phát hiện. Trong các giai đoạn đầu mới dễ nhận thấy, có thể biểu hiện như rối loạn giấc ngủ, nhầm lẫn nhẹ, thay đổi tính cách… Cũng có thể gây ra khó khăn về cử động và lời nói như nói lắp,… Ở một số người, cơn buồn ngủ có thể là nguy cơ dẫn đến mất ý thức và hôn mê, thậm chí nghiêm trọng hơn nữa là tính mạng người bệnh bị đe doa. Lactulose được chọn lựa là thuốc điều trị chính cho bệnh não gan. Bên cạnh tác dụng nhuận tràng thuốc còn giúp loại bỏ các chất độc tích tụ trong cơ thể ra bên ngoài khi gan bị suy. Để có thể giúp người bệnh đi tiêu lỏng một hoặc hai lần mỗi ngày, họ thường được cung cấp đủ lactulose. Các loại thuốc nhuận tràng khác hoặc thuốc xổ cũng có thể được chọn cho dùng. Nhiễm trùng, táo bón, mất nước, dùng thuốc hoặc chảy máu là các vấn đề đánh dấu sự khởi phát của hầu hết các giai đoạn của bệnh não. Điều quan trọng là bệnh nhân cần được tư vấn y tế để có thể xác định và điều trị nguyên nhân kịp thời.

5.5. Sự chảy máu

Gan tạo ra các sản phẩm để giúp thực hiện quá trình động đông máu (bao gồm các yếu tố đông máu và tiểu cầu) và khi gan ngừng hoạt động hiệu quả, bệnh nhân có thể có nguy cơ xuất huyết nặng. Dùng vitamin K và huyết tương trong các trường hợp cấp cứu y tế là các biện pháp được lựa chọn để sử dụng trong điều trị. Mọi người nên tìm lời khuyên của bác sĩ chuyên khoa trước khi thực hiện các thủ thuật y tế.

5.6. Dieu tri xo gan – Ung thư gan

Ung thư gan sẽ phát triển ở một số người bị xơ gan, trong đó, ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) là loại thường gặp nhất. Mục đích là phát hiện và điều trị ung thư gan sớm nhất có thể. Điều trị có thể bao gồm cắt bỏ phần gan bị ảnh hưởng bởi ung thư. Nhằm mục đích kiểm soát ung thư, có nhiều phương pháp điều trị khác nhau được sử dụng, gồm có: tiêm hóa chất, thuốc uống. Ở một số bệnh nhân, việc ghép gan có thể là một lựa chọn.

>>>>>>>> Tìm hiểu thêm: Có Thể Điều Trị Ung Thư Gan Thông Qua Những Phương Pháp Nào?

5.7. Dieu tri xo gan – Ghép gan

Có thể cần phải sử dụng tới biện pháp ghép gan nếu gan của bệnh nhân bị tổn thương quá nặng. Bằng một cuộc phẫu thuật kéo dài, lá gan đã bị tổn thương “không thể cứu vãn” của bạn sẽ được loại bỏ và thay thế bởi một lá gan khỏe mạnh đến từ người hiến tặng. Khi tính mạng của bệnh nhân bị đe dọa bởi bệnh gan giai đoạn cuối hay khi các phương pháp điều trị khác không còn hữu ích, ghép gan thường chỉ được khuyến nghị. Đây là một ca phẫu thuật lớn và bệnh nhân cần lên kế hoạch cẩn thận với đội ngũ y tế, gia đình và bạn bè của mình. Ghép gan thường thành công, tuy nhiên vẫn có một số trường hợp sau khi ghép gan, lá gan mới của bệnh nhân có thể chịu một số tác động cũ của bệnh xơ gan.

Bài viết trên chia sẻ cho một số phương pháp dieu tri xo gan và các biến chứng của bệnh này, hy vọng sẽ mang lại những thông tin bổ ích cho mọi người. Hãy liên hệ ngay tới Hotline: 18006091 nếu còn bất cứ thắc mắc gì về chuyên mục “dieu tri xo gan”, hay để lại bình luận bên dưới để được THTea Shop tư vấn, giải đáp nhé.

Chia sẻ bài viết


DMCA.com Protection Status
You cannot copy content of this page
Contact Me on Zalo
1800 6091