Giải Phẫu Gan Mật Tìm Hiểu Cấu Tạo, Chức Năng Chính

[banner id="7762"]

Giải Phẫu Gan Mật Tìm Hiểu Cấu Tạo, Chức Năng Chính

Gan mật là một hệ thống đóng vai trò rất quan trọng với các chức năng như chuyển hoá chất dinh dưỡng, tạo mật tiêu hoá thức ăn, tham gia tạo máu và giải độc cho cơ thể và các chức năng đó được hỗ trợ bởi cấu tạo giải phẫu gan mật… Cùng tìm hiểu các cấu trúc giải phẫu gan mậtphù hợp để thực hiện các chức năng trên.

1. Cấu tạo hệ thống gan mật – giải phẫu gan mật

Giải phẫu gan mật bao gồm vị trí, kích thước, cấu tạo, phân chia các thuỳ của gan, tìm hiểu về đường dẫn mật trong gan và ngoài gan.

1.1. Giải phẫu gan

giai-phau-gan-mat-1_1

Giải phẫu gan

Gan là tạng lớn nhất trong cơ thể, chiếm đến 2% trọng lượng cơ thể ở người trưởng thành và khoảng 5% ở trẻ sơ sinh. Nó là cơ quan thực hiện rất nhiều hoạt động quan trọng như chuyển hoá cần thiết cho sự ổn định nội môi, dinh dưỡng và đề kháng.

1.1.1.  Vị trí – kích thước và hình chiếu của gan

Gan nằm ở phần trên phía bên phải của ổ bụng, chiếm hầu hết vùng hạ sườn phải và vùng thượng vị và còn lấn sang tận vùng hạ sườn trái. Gan nặng 1,4-1,8 kg ở nam và 1,2-1,4 kg ở nữ. Hình thể ngoài giống như nửa quả dưa hấu bị cắt chếch, hay hình nón, và có màu đỏ nâu khi còn tươi. Gan vẫn rất dễ vỡ dù khá chắc và có tính đàn hồi. 

Đối chiếu vị trí của gan so với cơ thể:

  • Bên trên: giới hạn bên trên của nó tương ứng với một đường từ khớp ức-mỏm mũi kiếm chạy lên trên và sang phải tới một điểm nằm dưới núm vú phải và về bên trái tới một điểm có vị trí dưới-trong núm vú trái
  • Bờ phải của nó là một đường cong lồi về bên phải, đi từ đầu phải của bờ trên tới một điểm cách bờ sườn phải ở đầu sụn sườn X 1cm
  • Giới hạn dưới đường nối tạo thành tam giác với bờ phải và bờ trên, bắt chéo đường giữa tại mặt phẳng ngang qua môn vị.

1.1.2. Hình thể ngoài và liên quan của gan

Gan có hai mặt: mặt hoành ở trước trên và mặt tạng ở sau. Ranh giới giữa hai mặt ở phía trước là một bờ sắc gọi là bờ dưới còn ở phía sau thì không rõ ranh giới.

Mặt hoành (diaphragmatic surface)

Mặt hoành của gan lồi ra phía trước hướng thành bụng, sang phải, lên trên và ra sau, nằm sát với cơ hoành, mặt hoành được chia thành bốn phần: trước, trên, phải và sau.

  • Phần trước của mặt hoành

Phần trước của mặt hoành có một vùng nằm sau thành bụng trước trong góc dưới ức; tuy vậy, thường không thể sờ thấy vùng này mà chỉ có thể khám bằng cách gõ.

  • Phần trên của mặt hoành

Phần trên của mặt hoành có ấn tim (cardiac impression) tương ứng với vị trí của tim trên cơ hoành.

  • Phía sau của mặt hoành

Phía sau của mặt hoành có một vùng không được bao phủ bởi phúc mạc mà được gọi là vùng trần, được giới hạn ở trên và dưới bởi các lá của dây chằng vành và ở bên trái bởi rãnh tĩnh mạch chủ dưới.

Ở bên trái của rãnh này là mặt sau của thuỳ đuôi; thuỳ đuôi được ngăn cách với thuỳ trái của gan bằng khe dây chằng tĩnh mạch. Dây chằng tĩnh mạch, một tàn tích của ống tĩnh mạch thời kỳ phôi thai, nằm trong khe này.

  • Phía sau của mặt hoành

Phần phải được vòm hoành phải ngăn cách với phổi và màng phổi phải và các xương sườn VII – IX; ớ 1/3 dưới của phần này, cơ hoành tiếp xúc thẳng với thành ngực mà không bị ngách sườn-hoành của màng phổi ngăn cách.

Dây chằng liềm chia mặt hoành của gan ra 2 thuỳ: phải và trái. Qua cơ hoành, gan liên quan với màng phổi và màng ngoài tim.

giai-phau-gan-mat-2_1

Mặt hoành của gan

Mặt tạng (visceral surface)

Mặt tạng hướng ra sau, xuống dưới và sang trái,bề mặt có vết ấn của nhiều tạng liền kề.

Mặt này được phúc mạc phủ, trừ ở cửa gan, khe dây chằng tròn và hố túi mật. Khe dây chằng tròn (fissure for ligamentum teres) từ khuyết dây chằng tròn ở bờ dưới gan chạy về phía sau-trên tới đầu trái của cửa gan và đầu dưới của khe dây chằng tĩnh mạch. Sàn khe chứa dây chằng tròn, một tàn tích của tĩnh mạch rốn trái.

Hố túi mật (fossa for gallbladder) đi từ bờ dưới của gan tới đầu phải của cửa gan. Cửa gan (porta hepatis), một khe ngang sâu nối đầu sau-trên của hố túi mật và khe dây chằng tròn, là nơi mà các thành phần của cuống gan đi vào hoặc ra khỏi gan. 

Cửa gan, hố túi mật và khe dây chằng tròn (ở mặt tạng) cùng với khe dây chằng tĩnh mạch và rãnh tĩnh mạch chủ dưới (ở phần sau mặt hoành) là những mốc giới ngăn cách 4 thùy ở mặt dưới: phải, trái, vuông và đuôi.

Thùy phải nằm ở bên phải hố túi mật và rãnh tĩnh mạch chủ dưới. Vùng này có các vết ấn sau: ở trước là ấn đại tràng (colic impression), rơi gan áp vào góc đại tràng phải; sau đó là ấn thận (renal impression) liên quan với cực trên thận phải và ở bên trái ấn thận là ấn tá tràng, nơi gan tiếp giáp với góc tá tràng trên; và ở sau cùng là ấn thượng thận ở vùng trần.

Thùy trái nằm ở bên trái các khe của dây chằng tròn và dây chằng tĩnh mạch. Tại đây có hai ấn liên tiếp nhau là ấn thực quản (esophageal impression) và ấn dạ dày (gastric impression).

Hai thuỳ còn lại được ngăn cách nhau bởi cửa gan: thùy đuôi và thuỳ vuông. Thuỳ đuôi có hai mỏm nằm sát cửa gan là mỏm đuôi ở bên phải và mỏm nhú ở bên trái.

Bờ dưới (inferior border)

Bờ dưới là một bờ sắc ngăn cách phần trước và phần phải của mặt hoành với mặt tạng. Từ phải sang trái, lúc đầu nó chạy dọc theo bờ sườn phải, tới bờ trái của đáy túi mật thì chạy ít chếch hơn so với bờ sườn và đi qua góc dưới ức để bắt chéo bờ sườn trái ở gần đầu của sụn sườn VIII. Một khuyết ở bờ dưới do dây chằng tròn tạo nên gọi là khuyết dây chằng tròn.

>>>>>> Tìm hiểu thêm: Các Bệnh Lý Có Mối Liên Hệ Với Lá Gan Thường Gặp

1.1.3. Cấu tạo gan

giai-phau-gan-mat-3_1

Cấu tạo của gan

Gan hầu hết được phủ bởi phúc mạc, trừ một số vùng như: rãnh tĩnh mạch chủ dưới, vùng trần, các khe và hố túi mật. Dưới phúc mạc là bao xơ (fibrous capsule), ở cửa gan, bao xơ đi vào trong gan cùng các mạch máu tạo nên bao xơ quanh mạch (perivascular fibrous capsule). 

Đơn vị cấu tạo của gan là tiểu thủy. Mỗi tiểu thùy là một khối nhu mô được vây quanh bởi mô liên kết. Mô liên kết quanh tiểu thùy chứa các động mạch gian tiểu thuỳ (nhánh của động mạch gan), các tĩnh mạch gian tiểu thuỳ (nhánh của tĩnh mạch cửa) và các ống mật gian tiểu thuỳ; ở trung tâm mỗi tiểu thùy gan có một tĩnh mạch trung tâm.

Từ tĩnh mạch trung tâm có những đôi dây tế bào gan toả ra ngoại vi. Giữa hai đôi dày tế bào liền nhau là những mao mạch dạng xoang dẫn máu từ nhánh tĩnh mạch cửa và nhánh động mạch gan ở ngoại vi tiểu thuỳ tới tĩnh mạch trung tâm.

Các tế bào nội mô bao gồm một số đại thực bào (tế bào Kupffer) cấu tạo nên thành của các mao mạch dạng xoang. Các tĩnh mạch trung tâm hợp với nhau tạo nên các tĩnh mạch lớn hơn, sau đó tạo thành các tĩnh mạch gan đi ra khỏi gan và cuối cùng đổ vào tĩnh mạch chủ dưới.

Ở giữa các dây của một đôi dây tế bào gan là vi quản mật; đầu ngoại vi của vi quản mật đổ vào ống mật gian tiểu thuỳ. Các ống mật gian tiểu thuỳ hợp nên những ống mật lớn dần, cuối cùng thành các ống gan phải và trái đi ra khỏi gan.

1.1.4. Các cấu trúc giữ gan tại chỗ

Gan được giữ tại chỗ bởi: tĩnh mạch chủ dưới cùng các tĩnh mạch gan, dây chằng hoành-gan (là lớp mô liên kết dính vùng trần của gan với cơ hoành), dây chằng vành và dây chằng liềm. 

Dây chằng vành

Dây chằng vành(coronary ligament) được tạo nên bởi sự lật của phúc mạc gan lên cơ hoành: phúc mạc ở mặt hoành lật ra trước và lên trên, phúc mạc ở mặt tạng lật ra sau và xuống dưới; các đường lật đó gọi là lá của dây chằng, vùng nằm giữa hai đường lật không được các lá che phủ đó là vùng trần.

Vùng trần hẹp dần về phía hai đầu trái và phải gan do các lá trên và dưới tiến lại gần nhau khi đi về 2 phía, gặp nhau tạo nên các dây chằng tam giác trái phải.

Dây chằng liềm

Dây chằng liềm(falciform ligament) là một nếp phúc mạc hình liềm đi từ mặt hoành của gan (bờ gan) tới cơ hoành và phần thành bụng trước trên rốn. Bờ tự do của dây chằng này đi từ rốn gan tới bờ dưới gan. Giữa hai lá của của bờ tự do dây chằng liềm chứa một thừng sợi. gọi là dây chằng tròn, và các tĩnh mạch cạnh rốn. Dây chằng liềm và các dây chằng tam giác được xem như những bộ phận của dây chằng vành.

Một số cấu trúc khác có tên là “dây chằng” nhưng không có vai trò giữ gan. Đó là: dây chằng gan-vị và dây chằng gan-tá tràng của mạc nối nhỏ (lesser omentum), dây chằng tròn gan và dây chằng tĩnh mạch.

1.2. Giải phẫu đường mật

ong-tui-mat

Giải phẫu đường mật

Các ống gan trái và phải chạy ra khỏi gan và hợp lại tạo nên ống gan chung ở gần đầu phải cửa gan. Ông gan chung chạy xuống khoảng 3cm trước khi cùng với ống túi mật (cystic duct) hợp nên ống mật chủ (bile duct).

Ống gan chung thường bắt chéo trước nhánh trái của động mạch gan riêng rồi đi xuống ở bên phải động mạch gan riêng và trước tĩnh mạch cửa. Ống mật chủ dài khoảng 7,5cm và có đường kính khoảng 6mm.

Nó đi ra sau và xuống dưới trong mạc nối nhỏ, ở phía bên phải động mạch gan riêng. Sau đó, nó đi ở sau phần trên tá tràng (cùng động mạch vị-tá tràng ở bên trái) rồi chạy trong một rãnh ở mặt sau đầu tụy.

Ống mật tiến gần lại ống tuỵ tại bờ trái của phần xuống tá tràng rồi cùng đi vào thành tá tràng và kết hợp với nhau để tạo thành bóng gan-tụy

Túi mật là một túi nằm trong hố túi mật có hình quả lê, chạy từ bên phải cửa gan tới bờ dưới gan.

Mặt trên được gắn với gan qua mô liên kết, mặt dưới được phúc mạc phủ.

Túi mật, với kích thước khoảng 8cm chiều dài và khoảng 3cm bề ngang (nơi rộng nhất), có một đáy, một thân và một cổ.

  • Đáy là đầu phình nhô ra trước, sang phải và xuống dưới qua bờ dưới gan và ở nơi bắt chéo của bờ sườn với bờ ngoài cơ thẳng bụng thì tiếp xúc với thành bụng trước.
  • Thân (body of gallbladder) chạy ra sau và liên tiếp với cổ túi mật tại đầu phải của cửa gan.
  • Cổ túi mật hẹp, uốn cong ra trước và lên trên rồi lại gấp ra sau và xuống dưới sau đó liên tiếp với ống túi mật.
  • Ống túi mật (cystic duct), với chiều dài từ 3-4 cm, từ cổ túi mật chạy xuống dưới và sang trái hợp với ống gan chung tạo nên ống mật chủ.
  • Trước khi đổ vào ống mật chủ có một đoạn ngắn nó gắn với ống gan chung. Niêm mạc có từ 5-12 nếp gấp hình liềm (nếp xoắn). Đường mật chính bao gồm các ống gan trái và phải, ống mật chủ ống gan chung. Còn lại ống túi mật và túi mật là các đường mật phụ.

>>>>>> Xem thêm: Đường Mật Trong Gan, Tìm Hiểu Những Căn Bệnh Liên Quan Đến Đường Mật

2. Chức năng hệ thống gan mật – giải phẫu gan mật

Mỗi cấu trúc giải phẫu gan mật đều phù hợp và được tối ưu hoá để thực hiện được các chức năng của cấu trúc đó

san-xuat-hong-cau

Chức năng gan mật

Gan có nhiều chức năng phức tạp:

  • Gan là cơ quan dự trữ

Gan dự trữ một lượng lớn máu, glycogen. Ngoài ra còn có các protein, lipid, vitamin A, vitamin B12 và các chất tham gia tạo hồng cầu 

  • Chức năng tổng hợp

Gan tổng hợp các protein huyết tương (albumin là một loại protein giữ cho chất lỏng trong máu không bị rò rỉ vào mô xung quanh. Nó cũng mang hoóc môn, vitamin và enzyme đi khắp cơ thể), fibrinogen, phức hệ prothrombin, heparin…

  • Chức năng bài tiết mật

Mật rất cần thiết cho quá trình tiêu hóa hoàn toàn chất béo. Khi tiêu hóa chất béo, mật hoạt động như một chất nhũ hóa để phá vỡ các giọt chất béo lớn thành các giọt nhũ tương nhỏ hơn. Chất béo được nhũ tương cung cấp một diện tích lớn hơn cho các enzym tiêu hóa chất béo (lipase) hoạt động, giúp quá trình diễn ra nhanh hơn.

Mật cần thiết cho sự hấp thụ chất béo, sắt, canxi và vitamin. Mật hỗ trợ hấp thu các vitamin hòa tan trong lipid như A, D, E và K và tiền vitamin, beta carotene. Ngoài ra, muối mật kích thích nhu động ruột và giúp duy trì độ pH thích hợp trong tá tràng và do đó, thúc đẩy hoạt động của tất cả các enzym. Mật là một nguồn kiềm quan trọng để trung hòa axit clohydric đi vào ruột từ dạ dày.

  • Chức năng tạo và phá huỷ hồng cầu

Gan là cơ quan chủ yếu tạo hồng cầu cho thai nhi trong ba tháng giữa thai kỳ (hồng cầu vẫn còn có nhân). Các hồng cầu già bị phá hủy ở lách, gan và tủy xương và giải phóng ra hemoglobin, hemoglobin thoái hoá trong các tổ chức liên võng tạo ra Hem và globin.

Globin là protein nên thuỷ phân thành các acid amin, còn hem tham gia phản ứng mở vòng C tạo biliverdin có màu xanh, biliverdin tiếp tục bị khử thành bilirubin.

  • Chức năng chuyển hoá

Gan là trung tâm của các quá trình chuyển hoá glucid (đặc biệt là vai trò điều hòa đường huyết), chuyển hóa lipid và chuyển hoá protein

  • Chức năng khử độc 

Gan thực hiện chức năng thải độc cho cơ thể bằng các phản ứng liên hợp: gắn chất có hại với một phân tử hoặc một nhóm hoá học khác để tạo thành một hợp chất sau đó được bài xuất qua nước tiểu

Liên hợp với sunfat (nhiều hợp chất phenol kết hợp với sunfat và được bài xuất dưới dạng sunfat ester); liên hợp với glycin (nhiều acid nhân thơm không được chuyển hoá trong cơ thể, cần kết hợp với glycin để bài xuất ra ngoài.

Ví dụ acid benzoic được gan chuyển thành acid hippuric, acid phenylacetic kết hợp với glutamine…); liên hợp với acid glucuronic (rất nhiều thuốc hoặc hormone có nhóm OH- kết hợp với acid glucuronic tạo thành hợp chất glucuronide. Ví dụ pregnanediol được gan chuyển thành pregnanediol glucuronide và bài xuất ra nước tiểu.

Gan đóng một vai trò quan trọng trong việc giải độc cơ thể bằng cách chuyển hóa amoniac, một sản phẩm phụ của quá trình trao đổi chất trong cơ thể, thành urê và được đào thải qua nước tiểu. Gan cũng phân hủy các loại thuốc, bao gồm cả rượu, chịu trách nhiệm phân hủy insulin và các hormon khác trong cơ thể.

>>>>>> Tìm hiểu thêm: Khi Gan Bị Nhiễm Độc Có Những Dấu Hiệu Gì Để Nhận Biết?

3. Những bệnh gan mật thường gặp – giải phẫu gan mật

Những bệnh về hệ thống gan mật thường gặp cũng dựa trên các tổn thương, hư hại về cấu trúc giải phẫu gan mật dẫn đến suy giảm về chức năng.

3.1. Bệnh viêm gan siêu vi

Các loại viêm gan A, B, C tương ứng với tên virus gây bệnh.

  • Virus viêm gan A lây qua đường tiêu hóa, thường mắc bệnh do ăn hoặc uống thứ gì đó bị nhiễm bẩn.
  • Viêm gan siêu vi B lây qua quan hệ tình dục không an toàn hoặc sử dụng ma túy bằng kim tiêm chung.
  • Viêm gan C cũng có thể mắc nếu dùng chung kim tiêm hoặc có liên quan đến HIV. 
Virus-viem-gan-B

Virus viêm gan B

3.2. Các vấn đề về hệ thống miễn dịch

Hệ thống miễn dịch chống lại những tác nhân gây bệnh bao gồm vi khuẩn và vi rút. Nhưng nó có thể hoạt động sai và tấn công một hoặc nhiều bộ phận của cơ thể, chẳng hạn như gan.

Viêm gan tự miễn

Nó có thể dẫn đến các rối loạn khác và thậm chí là suy gan. Bệnh thường gặp ở những bé gái hoặc phụ nữ

Viêm đường mật nguyên phát

Các ống nhỏ trong gan bị tấn công được gọi là ống dẫn mật. Mật là một chất hóa học giúp bạn tiêu hóa thức ăn. Khi các ống dẫn bị thương, mật sẽ trào ngược vào bên trong gan và gây tổn thương gan, sẹo gan. Phụ nữ thường gặp vấn đề này hơn nam giới.

Viêm đường mật xơ cứng nguyên phát

Làm phát triển sẹo đường mật và cuối cùng nó có thể làm tắc nghẽn chúng. Mật tích tụ bên trong gan của bạn và điều đó khiến gan khó hoạt động hơn. Nó có thể dẫn đến ung thư gan và có thể cần ghép gan. 

3.3. Ung thư và các khối u ở gan mật

Ung thư gan

Thường gặp ở nữ nhiều hơn nam và người Mỹ gốc Phi nhiều hơn người da trắng. Có thể gọi nó là ung thư biểu mô tế bào gan. Phần lớn bệnh tiến triển từ viêm gan mạn tính dẫn đến xơ gan.

Ung thư ống mật

Các ống dẫn mật- một chất lỏng giúp bạn tiêu hóa thức ăn bị tổn thương. Loại ung thư này chủ yếu ảnh hưởng đến những người trên 50 tuổi, nhưng nó không phổ biến.

U tuyến tế bào gan

Là một khối u không phải ung thư. Nó không phổ biến, nhưng phụ nữ uống thuốc tránh thai trong thời gian dài dễ bị phát triển hơn những người khác. Có một khả năng nhỏ là khối u cuối cùng có thể biến thành ung thư.

>>>>>> Xem thêm: Làm Thế Nào Để Xác Định Bản Thân Có Bị Ung Thư Gan Hay Không?

Thông qua bài viết này, THteashop mong rằng đã mang đến cho bạn đọc những thông tin hữu ích về giải phẫu gan mật. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào cần giải đáp liên quan đến giải phẫu gan mật hay bệnh lý về  gan, hãy liên hệ với THteashop thông qua HOTLINE 1800 6091 để được tư vấn đưa ra giải pháp tốt nhất cho sức khỏe của bạn.

Chia sẻ bài viết


DMCA.com Protection Status
You cannot copy content of this page
Contact Me on Zalo
1800 6091