Tìm Hiểu Về Một Số Kết Quả Xét Nghiệm Máu Gan Thường Gặp

[banner id="7762"]

Tìm Hiểu Về Một Số Kết Quả Xét Nghiệm Máu Gan Thường Gặp

Gan là cơ quan chịu trách nhiệm xử lý, chuyển hóa các chất độc, chất dinh dưỡng và thuốc khi chúng vào cơ thể, vì vậy đây là cơ quan vô cùng quan trọng nhưng rất dễ bị tấn công bởi các tác nhân độc hại và gây bệnh. Vì vậy kiểm tra chức năng gan định kỳ là việc cần phải thực hiện để phát hiện và theo dõi bất kỳ dấu hiệu bất thường nào ở gan. Cùng tìm hiểu ý nghĩa một số xét nghiệm và kết quả xét nghiệm máu gan thường được tiến hành trong chẩn đoán bệnh lý về gan.

1. Một số lưu ý về xét nghiệm máu gan

Xét nghiệm chức năng gan bao gồm xét nghiệm máu và nước tiểu để đo lường các chỉ số thể hiện chức năng của gan, qua đó giúp bác sĩ phát hiện và theo dõi những thay đổi, tiến triển của bệnh lý gan mật như ung thư gan, suy gan,…

Bên cạnh đó việc xét nghiệm còn dùng để đánh giá các chỉ số rối loạn và tổn thương của gan do những thói quen xấu như hút thuốc, rượu bia làm ảnh hưởng đến chức năng gan.

Xét nghiệm chức năng gan thường được đề nghị đối với các trường hợp:

  • Người bị nhiễm virus viêm gan B, virus viêm gan C, các loại ký sinh trùng gan như sán lá gan, ký sinh trùng sốt rét,…
  • Dùng để theo dõi tác dụng phụ của một số loại thuốc ảnh hưởng đến chức năng gan đối với những trường hợp sử dụng thuốc dài ngày.
  • Người có tiền sử bệnh gan.
  • Người bệnh gặp các triệu chứng, dấu hiệu về rối loạn chức năng gan.
  • Người bệnh có triglyceride cao, bệnh tiểu đường, huyết áp cao hoặc thiếu máu.
  • Người thường xuyên uống rượu, nghiện rượu.
  • Người bị bệnh túi mật.
Xét nghiệm chức năng gan được chỉ định cho một số trường hợp

Xét nghiệm chức năng gan được chỉ định cho một số trường hợp

2. Một số chức năng sinh lý bình thường của gan

Gan là tạng lớn nhất và đảm nhận nhiều chức năng quan trọng của cơ thể như:

  • Chức năng chuyển hóa: chuyển hóa glucid, chuyển hóa lipid, chuyển hóa protid (trong đó gồm chuyển hóa acid amin và tổng hợp protein).
  • Chức năng dự trữ: dự trữ máu, dự trữ glucid, dự trữ sắt, dự trữ vitamin B12.
  • Chức năng tạo mật: Mật là sản phẩm bài tiết của gan, thành phần của dịch mật gồm muối mật, sắc tố mật (bilirubin liên hợp), cholesterol.
  • Chức năng chống độc: Chức năng chống độc của gan được thực hiện nhờ vào tế bào Kupffer và tế bào gan. Tế bào Kupffer chống độc bằng cách thực bào. Tế bào gan chống độc theo 2 cơ chế: Giữ lại các kim loại nặng như thủy ngân, đồng, chì… sau đó thải ra ngoài và sử dụng các phản ứng hóa học để chuyển đổi các chất độc thành các chất không độc hoặc ít độc hơn sau đó thải ra ngoài.

Sự tham gia của gan đối với các chức năng của cơ thể là rất quan trọng, nên sẽ gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe khi gan gặp các vấn đề về bệnh lý.

Xét nghiệm máu gan bao gồm nhiều xét nghiệm khác nhau để đánh giá các chỉ số men gan, chỉ số albumin, chỉ số bilirubin,… thông qua sự chênh lệch so với bình thường để chẩn đoán bệnh lý gan mật.

>>>>> Tìm hiểu ngay: Sức Khỏe Và Tính Mạng Có Bị Ảnh Hưởng Gì Không Khi Chức Năng Gan Bị Rối Loạn?

Thăm khám chức năng gan thường xuyên để theo dõi và phát hiện sớm các bệnh lý

Thăm khám chức năng gan thường xuyên để theo dõi và phát hiện sớm các bệnh lý

3. Ý nghĩa và kết quả xét nghiệm máu gan

Các xét nghiệm này thường không thể tìm ra rối loạn chính xác ở gan vì muốn có kết quả toàn diện hơn cần tiến hành các phương pháp chẩn đoán bằng hình ảnh như chụp X-quang, siêu âm, chụp cộng hưởng từ MRI.

Tuy nhiên các xét nghiệm máu này cũng đóng vai trò cảnh báo cho bệnh nhân. Khi xem xét các chỉ số của gan, bác sĩ có thể căn cứ vào đó để yêu cầu tiến hành thêm các xét nghiệm khác để đưa ra nhận định chính xác hơn về tình trạng bệnh tật của gan.

Thêm vào đó, việc thăm khám và kiểm tra sức khỏe định kỳ sẽ giúp bệnh nhân thấy được sự thay đổi trong các kết quả xét nghiệm máu gan qua theo thời gian, từ đó theo dõi sức khỏe của bản thân tốt hơn và dễ phát hiện ra điểm bất thường hơn.

Kết quả xét nghiệm máu gan không chỉ ra bệnh lý cụ thể của gan

Kết quả xét nghiệm máu gan không chỉ ra bệnh lý cụ thể của gan

3.1. Kết quả xét nghiệm máu gan – Xét nghiệm Amoniac

Nồng độ Amoniac (NH3) trong máu bình thường từ 12-66 µg/dl. Khi có rối loạn chức năng gan thì chỉ số này tăng lên, thường trong bệnh lý xơ gan hoặc viêm gan nặng.

Các hợp chất chứa nitơ như như protein được ăn vào, qua các quá trình phân hủy bởi vi khuẩn cư trú ở đại tràng, giải phóng amoniac. Sau đó, amoniac này được hấp thụ vào máu và vận chuyển qua tĩnh mạch cửa đến gan.

Khi chức năng gan bình thường, gan có thể dễ dàng loại bỏ amoniac từ tĩnh mạch cửa sau đó chuyển thành glutamine, tiếp đó thận sẽ đảm nhận chuyển hóa glutamine thành urê để bài tiết qua nước tiểu.

Ở những người bị bệnh gan, chức năng gan suy giảm gây ảnh hưởng đến việc loại bỏ amoniac, amoniac này có thể xâm nhập vào hệ tuần hoàn gây bệnh não gan.

3.2. Kết quả xét nghiệm máu gan – Xét nghiệm albumin (ALB)

Ở người lớn chỉ số albumin trong kết quả xét nghiệm máu gan ổn định (3.5 – 4.8 g/dL), tuy nhiên khi còn nhỏ thì chỉ số này thay đổi theo độ tuổi và chỉ số này hầu như cao hơn ở người lớn. Ở bệnh nhân bị bệnh gan mạn tính kèm xơ gan lượng albumin thường nhỏ hơn 3g/dl.

Albumin là một loại protein được tạo ra trong gan có vai trò quan trọng trong huyết thanh, duy trì áp lực keo trong lòng mạch và vận chuyển các chất trong cơ thể, chiếm tỷ lệ cao nhất trong huyết thanh, đồng thời albumin cũng là một thành phần chỉ ra những tổn thương gan.

Vì vậy, khi có những tổn thương tại tế bào gan thì chỉ số albumin sẽ thay đổi (có thể tăng hoặc giảm tùy trường hợp).

Tuy nhiên do khả năng dự trữ albumin của gan khá lớn và thời gian bán hủy của albumin cũng khá dài (khoảng 3 tuần) nên thường thì chỉ số albumin giảm khi tổn thương gan rất nặng hoặc các bệnh gan mạn tính. Đây cũng là một chỉ số quan trọng trong xét nghiệm để đánh giá chức năng gan.

Một số bệnh lý có thể gây tăng chỉ số albumin trong máu là: khi cơ thể bị mất nước nặng như (mất máu nặng, bỏng nặng,…), bệnh nhân bị việm tụy cấp, tiêu chảy hoặc nôn nhiều,… Với trường hợp albumin tăng, bệnh nhân chỉ cần giảm chế độ ăn đạm, bổ sung nước và điện giải phù hợp nồng độ albumin sẽ cân bằng trở lại.

So với việc tăng albumin thì việc giảm albumin cần được lưu ý và đáng cảnh báo hơn. Albumin giảm được xem một dấu hiệu nguy hiểm.

Một số nguyên nhân gây giảm albumin là:

  • Giảm tổng hợp

Đây là dấu hiệu của bệnh lý về gan (vì toàn bộ albumin trong cơ thể được tạo ra tại gan). Một số bệnh lý tại gan gây giảm tổng hợp albumin là: viêm gan mạn tính, xơ gan tiến triển, bệnh gan do rượu, suy gan, ung thư gan,…

Khi bị bệnh gan mạn tính, lượng albumin huyết thanh thường giảm do sự giảm tổng hợp gan, sự gia tăng thể tích phân bố (ví dụ: do cổ trướng), hoặc do cả hai nguyên nhân trên.

  • Mất albumin cho tăng đào tại qua đường thận và tiêu hóa

Đây là trường hợp bệnh thận gây giảm albumin (thận hư, bệnh thận mạn,…).

Ý nghĩa của kết quả xét nghiệm máu gan - xét nghiệm albumin

Ý nghĩa của kết quả xét nghiệm albumin

3.3. Kết quả xét nghiệm máu gan với chỉ số Bilirubin

Chỉ số bilirubin bình thường ở người lớn từ 0.2 – 1.0 mg/dL. Chỉ số bilirubin tăng thể hiện mức độ tổn thương của gan.

Bilirubin (dạng tự do hay gián tiếp) là một chất có màu vàng, được tạo thành trong quá trình phân hủy hồng cầu tại lá lách và tủy xương. Quá trình này tạo ra các nhân Hem, và bilirubin tự do tạo ra từ sự giáng hóa nhân hem này.

Hệ thống lưới nội mô của tế bào gan là nơi đảm nhận vai trò tổng hợp bilirubin, sau đó nó được chuyển hóa trong huyết tương, liên hợp ở gan và được bài tiết theo đường mật.

Bilirubin toàn phần gồm có bilirubin tự do (hay còn gọi là bilirubin gián tiếp) và bilirubin liên hợp (hay còn gọi là bilirubin trực tiếp), bilirubin liên hợp là một chất không độc và không màu. Bilirubin liên hợp là thành phần của sắc tố mật, thông qua mật, bilirubin sẽ được tái hấp thu hoặc thải trừ theo phân.

Dấu hiệu cho thấy tăng bilirubin là vàng da và các niêm mạc. Chỉ số bình thường của bilirubin toàn phần trong cơ thể là 0,8–1,2 mg/dL, bilirubin gián tiếp là 0,6 – 0,8 mg/dL và bilirubin trực tiếp 0,2 – 0,4 mg/dL (chiếm 30% bilirubin toàn phần).

Vàng da chỉ biểu hiện trên lâm sàng khi bilirubin toàn phần tăng trên 2,5 mg/dL.Vàng da do tăng bilirubin có thể do tăng bilirubin tự do trong bệnh tan huyết (sự phá hủy hồng cầu hàng loạt) hoặc trong các bệnh lý tại gan khi mà chức năng gan bị suy giảm, bilirubin tự do không được chuyển hóa thành bilirubin liên hợp (để thải ra ngoài theo nước tiểu và phân) thì bilirubin tự do có thể đi vào máu và gây ra vàng da, niêm mạc.

Bilirubin tự do xuất hiện trong huyết tương còn bilirubin liên hợp thì không, do đó bệnh nhân thường được chỉ định thêm các siêu âm gan-mật-tụy để đưa ra chẩn đoán chính xác bệnh lý gây tăng bilirubin.

Tăng bilirubin do bệnh lý về gan thường đi kèm với tăng AP và GGT. Những bệnh đồng thời có cả chỉ số bilirubin cao và GGT, AP cao thường là bệnh gan mật.

>>>>> Đọc thêm: Vàng Da Là Gì Và Tại Sao Lại Có Hiện Tượng Màu Da Chuyển Vàng?

3.4. Kết quả xét nghiệm máu gan – Xét nghiệm tiểu cầu

Đối với người bình thường, lượng tiểu cầu có trong máu sẽ rơi vào khoảng 150.000 – 450.000 /microlit máu.

Ở bệnh nhân bị suy chức năng gan lượng tiểu cầu sẽ thấp hơn. Khi gan bị bệnh, đặc biệt ở bệnh nhân xơ gan, hiện tượng chèn ép bên ngoài hoặc huyết khối tĩnh mạch cửa hoặc tĩnh mạch lách làm lách to. Lá lách có vai trò quan trọng là lưu trữ tiểu cầu.

Khi lá lách bị phình to, nó sẽ chứa được nhiều khối lượng tiểu cầu hơn làm giảm lượng tiểu cầu tự do trong máu.

3.5. Kết quả xét nghiệm yếu tố đông máu

Hàm lượng bình thường của Fibrinogen huyết tương từ 2 – 4g/l. Đối với trường hợp có các bệnh lý về gan thì chỉ số này giảm đi. Bệnh nhân đã bắt đầu có các biểu hiện xuất huyết như các vết bầm tím ở tay chân.

Hoạt tính các yếu tố đông máu (gồm các yếu tố đông máu ngoại sinh (yếu tố II, V, VII, X) và nội sinh (yếu tố VIII, IX, XI, XII)) bình thường từ 50 – 150%. Giảm yếu tố đông máu V là dấu hiệu đặc trưng cho suy gan cấp và là biểu hiện của sự trầm trọng hơn tình trạng tổn thương tế bào gan.

3.6. Chỉ số xét nghiệm men gan AST và ALT

chỉ số men gan

Chỉ số đặc hiệu quyết định chức năng gan

AST (Aspartate Aminotransferase) hay còn gọi là SGOT (Serum Glutamic Oxaloacetic Transaminase)  là một loại enzyme được tìm thấy trong gan có chức năng chuyển hóa aspartate – một loại acid amin.

ALT (Alanine Transaminase) hay còn gọi là SGPT (Serum glutamic pyruvic transaminase) cũng là một loại enzyme được tìm thấy trong gan, chức năng của enzyme này là chuyển hóa alanin – một loại acid amin.

Đây là hai chỉ số đặc trưng cho kết quả xét nghiệm máu gan, dựa vào chỉ số này có thể xác định được tình trạng của gan (thường liên quan đến sự tổn thương hoặc viêm của tế bào gan). So với AST thì ALT được xem là chỉ số quyết định chức năng gan – chỉ số đặc hiệu.

AST ngoài gan còn được tìm thấy trong một số cơ quan khác như thận, cơ nhưng nhiều nhất ở tim. Điều này có thể hiểu rằng AST tăng không phải luôn luôn cho thấy vấn đề tại gan. Mặt khác ALT thì có thể chắc chắn có sự tổn thương hoặc viêm gan.

Khi cơ thể hoạt động bình thường, các chỉ số men gan sẽ giải phóng một lượng vừa đủ vào máu đồng thời hoạt động chuyển hóa cũng diễn ra bình thường. Ngược lại, khi gan bị viêm, tổn thương tế bào gan thì lượng men này sẽ giải phóng vào máu một lượng lớn. Chỉ số AST ALT theo đó mà tăng lên, chỉ số này càng cao thì mức độ tổn thương gan càng nhiều.

Một số bệnh lý gây tăng chỉ số AST ALT trong kết quả xét nghiệm máu gan:

  • Viêm gan

Các loại viêm gan liên quan đến virus (như viêm gan A, viêm gan B, viêm gan C,…) hoặc do một tác nhân bất kỳ nào đó mà có thể làm tăng men gan thì chỉ số AST, ALT sẽ tăng. Chỉ số này sẽ tăng lên nhiều lần tùy thuộc vào mức độ của bệnh (1-2 lần đối với mức độ nhẹ, 2-5 lần đối với mức độ trung bình, lớn hơn 5 lần đối với mức độ nặng).

Với một số trường hợp viêm gan cấp tính hoặc ung thư gan thì chỉ số này có thể tăng đột biến lên đến 5000 UI/L.

>>>>>> Xem thêm: Viêm Gan Cấp Tính Biểu Hiện Những Triệu Chứng Gì? Làm Thế Nào Để Ngừa Viêm Gan?

  • Bệnh gan do rượu

Đối với bệnh nhân bị tổn thương gan do bia rượu thì chỉ số AST sẽ tăng rõ rệt từ 2-10 lần. Tuy nhiên, đối với chỉ số ALT lại không có sự thay đổi đáng kể hoặc tăng ít. 

  • Bệnh gan do thuốc

Một số thuốc khi sử dụng dài ngày sẽ gây tác dụng phụ làm tăng chỉ số AST và ALT của gan như: thuốc điều trị lao (isoniazid, pyrazinamide,…), thuốc điều trị gout (allopurinol, fexobustat,…).

Chỉ số men gan AST và ALT tăng đột biến với chỉ số rất cao, có thể gây biến chứng ung thư gan.

  • Vàng da ứ mật
  • Là bệnh lý thường xảy ra ở trẻ em và có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh. Đối với bệnh nhân bị vàng da ứ mật do nhiễm virus viêm gan thì chỉ số ALT và AST sẽ tăng.

3.7. Chỉ số xét nghiệm men gan GGT (Gamma-glutamyltransferase) 

chỉ số men gan

Các chỉ số men gan khác được tiến hành xét nghiệm

Là một loại enzym có trong máu – là chỉ số men trong thành ống mật. Chỉ số này trong kết quả xét nghiệm máu gan thường rất thấp dưới 60 UI/L (cụ thể ở nam khoảng 11-50 UI/L, ở nữ 7-32 UI/L).

Khi cơ thể xuất hiện bệnh lý tại gan hoặc ống mật thì kết quả xét nghiệm máu gan của chỉ số này sẽ tăng. Tùy theo từng bệnh lý và mức độ bệnh mà GGT sẽ có những chỉ số khác nhau đánh giá bệnh.

Một số bệnh lý sẽ làm tăng chỉ số GGT, đa số khi có thể có các vấn đề liên quan đến ống mật thì chỉ số này sẽ tăng (ví dụ bệnh vàng da ứ mật (GGT tăng khoảng 500 UI/L). Ngoài ra, khi có sự tổn thương gan như suy gan hoặc ung thư gan thì đây cũng là một chỉ số có thẻ sử dụng để đánh giá tình trạng bệnh (tăng cao khoảng 5000U/L).

Chỉ số GGT cũng tăng trong một số trường hợp khác như suy tim hoặc khi bệnh nhân sử dụng thuốc điều trị trong thời gian dài như kháng sinh, thuốc kháng nấm (đặc biệt là nhóm kháng nấm azole), thuốc giảm đau kháng viêm.

3.8. Chỉ số xét nghiệm men gan ALP (Alkaline Phosphatase)

ALP (Alkaline Phosphatase) là một enzyme tồn tại ở nhiều dạng khác nhau chủ yếu trong xương và gan. Trong điều kiện bình thường ALP có nhiệm vụ phản ánh sự tổng hợp các isoenzym của xương và gan.

Khi thực hiện xét nghiệm chỉ số ALP trong máu có thể sàng lọc một số bệnh lý về hệ gan mật ALP có thể đánh giá cơ bản chức năng của gan, và góp vào chẩn đoán một số bệnh lý liên quan đến hệ gan mật.

Tuy nhiên, so với GGT thì chỉ số ALP không mang tính đặc hiệu. ALP tăng chỉ phản ánh vấn đề về gan mật khi có sự tăng của chỉ số GGT, nhưng GGT có thể đánh giá được vấn đề về gan mật dù ALP có tăng hay không.

Một số bệnh lý có thể gây tăng chỉ số GGT kèm theo tăng ALP: xơ gan mật tiên phát, gan nhiễm mỡ, viêm đường mật, viêm gan ứ mật, suy gan, xơ gan, ung thư gan,…

>>>>> Đọc thêm: Men Gan Tăng Cao Do Đâu, Nguy Hiểm Như Thế Nào?

Và đó là những thông tin tổng hợp về các kết quả xét nghiệm máu gan cùng với một số lưu ý trong quá trình xét nghiệm. Hi vọng những kiến thức trên sẽ giúp độc giả có cái nhìn tổng quan về xét nghiệm chức năng gan và theo dõi sức khỏe của bản thân và gia đình.

Nếu vẫn còn điều gì thắc mắc về các vấn đề liên qua đến bệnh gan mật, nhấc máy và liên hệ HOTLINE 1800.6091 để được THTea Shop tư vấn miễn phí.

Chia sẻ bài viết


DMCA.com Protection Status
You cannot copy content of this page
Contact Me on Zalo
1800 6091