Máu Nhiễm Mỡ Gan Nhiễm Mỡ

[banner id="7762"]

Máu Nhiễm Mỡ Gan Nhiễm Mỡ

Số người mắc bệnh máu nhiễm mỡ gan nhiễm mỡ ngày càng tăng lên vì vậy nó được xem là căn bệnh của xã hội hiện đại, trong đó hơn 60% bệnh nhân mắc đồng thời 2 bệnh này. Gan nhiễm mỡ máu nhiễm mỡ có mối quan hệ tương sinh, nếu không được điều trị sẽ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe. Bài viết dưới đây THteashop sẽ cung cấp cho độc giả những thông tin hữu ích về triệu chứng và nguyên nhân gây ra máu nhiễm mỡ gan nhiễm mỡ.

1. Máu nhiễm mỡ gan nhiễm mỡ là bệnh như thế nào? 

Máu nhiễm mỡ (rối loạn chuyển hóa lipid máu, mỡ máu cao) là khi các thành phần mỡ lipit, cholesterol trong máu cao hơn mức bình thường: Giảm lượng cholesterol có lợi và tăng cholesterol có hại cho cơ thể, rối loạn lipid máu.

Trong máu luôn có một tỷ lệ mỡ nhất định được đánh giá qua các chỉ số xét nghiệm triglycerid, cholesterol toàn phần, LDL-cholesterol, HDL -cholesterol khi chỉ số này vượt ngưỡng bình thường thì đó chính là căn cứ để chẩn đoán máu nhiễm mỡ. 

mau-nhiem-mo-gan-nhiem-mo-1-min

Rối loạn lipid máu

Mỡ máu bao gồm các thành phần:

Cholesterol

Là một thành phần quan trọng nhất. Là chất thiết yếu của màng tế bào, tế bào thần kinh và của mật giúp cơ thể hấp thụ chất béo và các vitamin tan trong chất béo. Cơ thể sử dụng cholesterol để tạo ra vitamin D và các hormon khác nhau (estrogen, testosterone và cortisol).

Cơ thể có thể sản xuất tất cả cholesterol cần thiết nhưng phần lớn cholesterol đến từ thức ăn. Tuy nhiên khi xảy ra sự rối loạn cholesterol sẽ gây ra bệnh lý nghiêm trọng điển hình là bệnh máu nhiễm mỡ gan nhiễm mỡ.

Triglycerid

Hay còn gọi là chất béo trung tính là một loại lipid được tìm thấy trong máu. Lượng calo trong thức ăn sẽ được cơ thể biến đổi thành chất béo trung tính và  dự trữ trong các tế bào mỡ. Khi cơ thể cần, triglycerid sẽ được phân giải sau đó được sử dụng để cung cấp năng lượng cho các quá trình trao đổi chất của cơ thể.

Chất béo trung tính được tạo ra trong ruột và gan từ các chất béo nhỏ hơn được gọi là axit béo. Một số loại axit béo được tạo ra bởi cơ thể nhưng những loại khác phải được lấy từ thực phẩm.

Lipoprotein

Là phức hợp bao gồm lipid và protein. Lipoprotein có nhiệm vụ vận chuyển chất béo vì lipid không tan được nên phải nhờ sự có mặt của lipoprotein để lưu thông tự do cholesterol, triglycerid đến các mô.

Có 5 loại lipoprotein khác nhau bao gồm:

  • Chylomicrons (Hạt vi thể dưỡng chấp)

Là loại có mật độ thấp nhất trong số các loại lipoprotein. Các phân tử này chủ yếu được tạo thành từ một lượng nhỏ protein và chất béo trung tính. Chylomicrons có nhiệm vụ vận chuyển lipid từ đường ruột đến các mô và cơ quan trong cơ thể.

  • Lipoprotein tỷ trọng rất thấp (VLDL)

Những lipoprotein này bao gồm chủ yếu là chất béo trung tính (triglyceride), một số phân tử cholesterol và ít protein. VLDL chứa thành phần lipid cao. VLDL cần thiết cho các quá trình tế bào, được tạo ra trong gan và chịu trách nhiệm cung cấp triglycerid đến các tế bào trong cơ thể. 

  • Lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL)

LDL bao gồm nhiều cholesterol hơn triglycerid và protein. LDL chứa nhiều protein và ít lipid hơn so với lipoprotein tỷ trọng rất thấp (VLDL). LDL có nhiệm vụ mang cholesterol đến các tế bào.

LDL còn được gọi là cholesterol “xấu” vì nó liên quan đến tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Một số dạng LDL – cụ thể là LDL nhỏ, đậm đặc (sdLDL) và LDL bị oxy hóa (oxLDL) – có liên quan đến việc thúc đẩy sự hình thành xơ vữa động mạch bằng cách lắng đọng cholesterol trên thành động mạch.

Lipoprotein tỷ trọng trung bình (IDL): Ít đặc hơn các phân tử LDL nhưng đặc hơn các hạt VLDL.

Lipoprotein tỷ trọng cao (HDL): HDL được tạo ra trong ruột và gan. HDL đảm nhiệm chức năng mang cholesterol từ các tế bào trở lại gan vì vậy HDL được coi là cholesterol “tốt”.

Bệnh gan nhiễm mỡ là tình trạng tích tụ chất béo dư thừa trong tế bào gan và là một bệnh lý về gan phổ biến hiện nay. Bình thường gan chứa một lượng chất béo nhất định(2-4%) nhưng nếu lượng chất béo này chiếm hơn 5% trọng lượng của gan thì bạn đã bị gan nhiễm mỡ.

Gan nhiễm mỡ có thể không gây tổn thương, nhưng đôi khi lượng mỡ dư thừa dẫn đến gan bị viêm. Tình trạng này, được gọi là viêm gan nhiễm mỡ gây tổn thương gan. Đôi khi, tình trạng viêm gan nhiễm mỡ có liên quan đến việc lạm dụng rượu. Đây được gọi là viêm gan nhiễm mỡ do rượu. Nếu không tình trạng này được gọi là viêm gan nhiễm mỡ không do rượu (NASH).

>>> Xem thêm Dấu Hiệu Gan Nhiễm Mỡ Và Giải Pháp Điều Trị Bệnh Hiệu Quả

mau-nhiem-mo-gan-nhiem-mo-2-min

Bệnh gan nhiễm mỡ

  • Gan nhiễm mỡ không do rượu

Nguyên nhân gây ra tình trạng  này không liên quan tới rượu mà do rối loạn chuyển hóa lipid trong gan, dẫn đến dư thừa, tích tụ mỡ trong các nhu mô gan. Khi lượng mỡ trong gan đạt đến một mức độ nhất định, vượt ngưỡng bình thường(>5% trọng lượng của gan), gan to lên và có thể đi kèm với tình trạng suy giảm, rối loạn chức năng gan lâu ngày dẫn đến biến chứng xơ gan.

  • Gan nhiễm mỡ do rượu

Gan nhiễm mỡ là triệu chứng sớm nhất báo hiệu bệnh viêm gan do rượu. Uống nhiều rượu sẽ gây tổn thương tế bào gan và dẫn đến suy giảm chức năng chuyển hóa lipid, tích tụ mỡ trong gan. Kiêng rượu là biện pháp hiệu quả nhất giúp làm giảm tình trạng nhiễm mỡ gan. Nếu sử dụng rượu quá nhiều, trong thời gian dài thì bệnh gan nhiễm mỡ có nguy cơ cao biến chứng thành xơ gan.

Máu nhiễm mỡ gan nhiễm mỡ đều là căn bệnh phổ biến hiện nay chủ yếu do thói quen sinh hoạt, ăn uống không lành mạnh dẫn đến lượng mỡ trong máu vượt ngưỡng bình thường. Vì vậy mỗi người cần kiểm tra sức khỏe định kỳ để kịp thời chẩn đoán và điều trị tránh những biến chứng nguy hiểm.

2. Nguyên nhân bệnh máu nhiễm mỡ gan nhiễm mỡ

Có nhiều nguyên nhân gây ra máu nhiễm mỡ gan nhiễm mỡ, dưới đây THteashop sẽ cung cấp những nguyên nhân gây ra bệnh phổ biến:

2.1. Nguyên nhân nào gây ra bệnh gan nhiễm mỡ?

  • Rượu

Nguyên nhân thường gặp nhất. Đối với bệnh nhân nghiện rượu, NADH tại tế bào gan tăng do ethanol trong rượu, kích thích gây tăng tổng hợp triglycerid tại gan. Nguyên nhân thường gặp nhất ở đa số bệnh nhân gan nhiễm mỡ là nghiện rượu trong thời gian dài.

Khi nạp vào cơ thể lượng lipid quá lớn gan không chuyển hóa kịp thời, lượng mỡ thừa sẽ tích trữ trong các nhu mô gan và gây nên gan nhiễm mỡ.

Ngoài rượu là nguyên phổ biến còn một số nguyên nhân thường gặp khác dưới đây:

  • Thừa cân, béo phì

Thừa cân béo phì là một yếu tố nguy cơ hàng đầu gây ra chứng gan nhiễm mỡ. Nếu cơ thể thường xuyên được dung nạp lượng triglyceride (chất béo trung tính) quá mức cần thiết thì sẽ xảy ra hiện tượng tích tụ, không sử dụng hết, kéo dài gây gan nhiễm mỡ.

Ngoài ra, lượng lipid trong máu quá cao cũng khiến cơ thể không chuyển hóa hết thành năng lượng để sử dụng và tích trữ dưới dạng triglyceride.

mau-nhiem-mo-gan-nhiem-mo-3-min

Thừa cân, béo phì là nguyên nhân dẫn đến gan nhiễm mỡ

  • Chế độ ăn giàu cholesterol

Thực phẩm chiên, thức ăn nhanh chế biến sẵn,.. Lượng Cholesterol cao nguy cơ về bệnh tim mạch và máu nhiễm mỡ gan nhiễm mỡ khá lớn.

  • Đái tháo đường

Gan đóng vai trò chuyển hóa đường. Khi lượng mỡ trong gan tích trữ nhiều như giảm các HDL cholesterol và tăng LDL cholesterol sẽ dẫn tới đề kháng insulin. Insulin là một hormone quan trọng giúp chuyển hóa đường trong cơ thể, hậu quả gây nên bệnh đái tháo đường. 

  • Rối loạn gen gây ra bệnh di truyền ở những người cholesterol máu cao, hàm lượng triglycerid máu cao, suy dinh dưỡng, hội chứng rối loạn chuyển hóa
  • Tác dụng phụ của một số loại thuốc: Steroids, Aspirin, Tamoxifen hay Tetracycline cũng là nguyên nhân gây ra bệnh gan nhiễm mỡ.

2.2. Nguyên nhân dẫn đến bệnh máu nhiễm mỡ

Mỡ máu cao(Rối loạn lipid máu) có thể được phân thành 2 loại dựa trên nguyên nhân:

Nguyên nhân nguyên phát

  • Yếu tố di truyền

Nguyên nhân chính liên quan đến đột biến gen khiến cơ thể sản xuất quá nhiều LDL cholesterol hoặc chất béo trung tính hoặc không thể loại bỏ những chất đó. Một số nguyên nhân liên quan đến bệnh hiếm gặp bệnh Tangier và bệnh thiếu hụt protein dẫn đến việc sản xuất dưới mức hoặc loại bỏ quá nhiều HDL cholesterol. 

  • Tăng lipid máu

Phổ biến ở thanh thiếu niên, thanh niên. Trong bệnh tăng lipid máu kết hợp có tính chất gia đình, nồng độ cholesterol, triglycerid hoặc cả hai có thể cao. Rối loạn này ảnh hưởng đến khoảng 1 đến 2% số người rối loạn lipid.

Mức lipid thường trở nên bất thường sau 30 tuổi nhưng đôi khi ở độ tuổi trẻ hơn, đặc biệt là ở những người thừa cân, những người có chế độ ăn nhiều chất béo hoặc những người mắc hội chứng chuyển hóa .

  • Rối loạn chuyển hóa protein máu

Trong rối loạn chuyển hóa protein máu có tính chất gia đình, nồng độ lipoprotein tỷ trọng rất thấp (VLDL) và cholesterol toàn phần và triglycerid đều cao do một dạng VLDL bất thường tích tụ trong máu. 

Chất béo tích tụ (xanthomas) có thể hình thành ở da trên khuỷu tay và đầu gối và ở lòng bàn tay, nơi chúng có thể gây ra các nếp nhăn màu vàng. Rối loạn không phổ biến này dẫn đến sự phát triển sớm của chứng xơ vữa động mạch nặng. Đến tuổi trung niên, xơ vữa động mạch thường tạo ra các tắc nghẽn ở động mạch vành và ngoại vi.

  • Tăng triglycerid máu

Dẫn đến nồng độ triglycerid cao. Rối loạn này ảnh hưởng đến khoảng 1% số người rối loạn lipidi. 

  • Tăng cholesterol máu gia đình

Đột biến ở các thụ thể LDL. Trong tăng cholesterol máu gia đình, mức cholesterol toàn phần cao. Mọi người có thể đã thừa hưởng một gen bất thường hoặc họ có thể thừa hưởng hai gen bất thường, một gen từ bố và một gen từ mẹ. Những người bị ảnh hưởng có thể bị tích tụ chất béo (xanthomas) trong các gân ở gót chân, đầu gối, khuỷu tay và ngón tay. 

Tăng cholesterol máu gia đình có thể dẫn đến xơ vữa động mạch tiến triển nhanh và tử vong sớm do bệnh mạch vành . Trẻ em có hai gen bất thường có thể bị đau tim hoặc đau thắt ngực ở tuổi 20 và nam giới có một gen bất thường thường phát triển bệnh động mạch vành trong độ tuổi từ 30 đến 50.  

Nguyên nhân thứ phát

  • Chế độ ăn uống không lành mạnh

Một lối sống ít vận động với chế độ ăn uống quá nhiều tổng lượng calo, chất béo bão hòa, cholesterol và chất béo chuyển hóa.

  • Sử dụng nhiều chất kích thích

Đồ uống có cồn, thuốc lá, cafein…

nguyen-nhan-mau-nhiem-mo

Thức ăn nhanh, chế biến sẵn là nguyên nhân gây ra mỡ máu

  • Bệnh đái tháo đường

Nếu không kiểm soát tốt cả insulin (chuyển hóa glucose thành glycogen dự trữ tại gan) và glucose đều tăng cao. Khi gan bão hoà glycogen, glucose được dùng để tạo ra các acid béo, giải phóng vào máu, các acid béo này được sử dụng để sản sinh triglycerid trong các tế bào mỡ, dẫn đến tăng lượng mỡ trong máu gây ra rối loạn lipid.

  • Suy giáp

Do suy giáp, tuyến giáp không sản xuất đủ lượng hormone thyroxine cần thiết. Việc giảm sản xuất này có thể làm tăng lượng cholesterol trong máu gây rối loạn lipid máu.

  • Xơ gan mật nguyên phát

Khi bị xơ gan, chức năng chuyển hóa lipid của gan bị suy giảm.

>>> Xem thêm Đường Mật Trong Gan Và Những Căn Bệnh Liên Quan

  • Sử dụng một số loại thuốc

Các loại thuốc như thuốc chẹn beta, estrogen (uống), thuốc tránh thai, corticosteroid, retinoid, thuốc lợi tiểu thiazide (ở một mức độ nào đó), cyclosporin , tacrolimus và thuốc kháng vi-rút được sử dụng để điều trị nhiễm vi-rút suy giảm miễn dịch ở người (HIV) và bệnh AIDS có thể gây ra cholesterol và hoặc tăng mức chất béo trung tính và steroid đồng hóa có thể làm giảm mức HDL cholesterol.

Khi mắc các bệnh trên lượng cholesterol toàn phần, giảm HDL-cholesterol hoặc chất béo trung tính tăng là nguyên nhân dẫn đến máu nhiễm mỡ. 

Từ nguyên nhân trên, mỗi người cần điều chỉnh chế độ ăn uống, thói quen sinh hoạt, kiểm tra sức khỏe định kỳ để làm giảm nguy cơ mắc bệnh máu nhiễm mỡ gan nhiễm mỡ.

3. Triệu chứng nhận biết bệnh máu nhiễm mỡ gan nhiễm mỡ

3.1. Triệu chứng bệnh máu nhiễm mỡ

Các triệu chứng biểu hiện không rõ rệt, diễn biến âm thầm. Một số bệnh nhân có thể gặp các triệu chứng sau: Hoa mắt, chóng mặt, đau nhức đầu, khó thở, tức ngực, mệt mỏi. Chân tay lạnh hoặc tê bì.

trieu-chung-benh

Đau ngực, khó thở là triệu chứng điển hình rối loạn lipid

3.2. Triệu chứng báo hiệu bệnh gan nhiễm mỡ

Người mắc bệnh gan nhiễm mỡ thường không có triệu chứng gì cho đến khi bệnh tiến triển thành xơ gan. Nếu xuất hiện các triệu chứng, chúng có thể bao gồm:

  • Đau bụng hoặc cảm giác đầy bụng, chướng hơi ở phía trên bên phải của bụng.
  • Buồn nôn, mệt mỏi, chán ăn hoặc sụt cân.
  • Da và mắt hơi vàng.
  • Cổ trướng, chân phù nề.
trieu-chung

Cổ trướng là dấu hiệu điển hình bệnh gan

Dựa vào những triệu chứng, biểu hiện lâm sàng kết hợp kết quả chỉ số xét nghiệm bác sĩ sẽ đưa ra kết luận về máu nhiễm mỡ gan nhiễm mỡ. Từ đó họ đưa ra phác đồ điều trị hiệu quả tùy mức độ bệnh từng người.

4. Mối liên quan giữa máu nhiễm mỡ gan nhiễm mỡ

Máu nhiễm mỡ gan nhiễm mỡ có quan hệ chặt chẽ. Máu nhiễm mỡ gan nhiễm mỡ là hai bệnh đều thuộc nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa chất béo trung tính, cholesterol. Cơ chế gây bệnh gây bệnh giống nhau. Theo đó:

  • Máu nhiễm mỡ là nguyên nhân cơ bản gây ra gan nhiễm mỡ.

Tỷ lệ bệnh nhân gan nhiễm mỡ ngày càng tăng với ước tính 12% – 25% dân số. Trong đó, bệnh nhân máu nhiễm mỡ gan nhiễm mỡ chiếm 50% và bệnh nhân mỡ gan kèm viêm gan có thể gây xơ gan chiếm 25%.

Gan đảm nhiệm quá trình chuyển hóa lipid, khi bị máu nhiễm mỡ hàm lượng lipid trong máu tăng cao thì cholesterol, triglycerid trong máu đi qua gan quá nhiều, vượt quá khả năng chuyển hóa của gan và làm cho mỡ trong máu tồn đọng trong gan sinh ra bệnh gan nhiễm mỡ.

  • Gan nhiễm mỡ cũng có thể trở thành nguyên nhân sinh ra bệnh máu nhiễm mỡ (mỡ máu).

Khi gan bị nhiễm mỡ dẫn đến rối loạn quá trình điều hòa và chuyển hóa lipid, chức năng gan suy giảm khiến cho lượng cholesterol và triglycerid máu cao vì vậy sinh ra máu nhiễm mỡ.

Mối liên hệ nhân – quả này được giải thích như sau: Gan có vai trò đảm nhiệm quá trình chuyển hóa lipid, do hàm lượng cholesterol, triglycerid trong máu tăng cao vượt ngưỡng bình thường nên gan không thể chuyển hóa kịp thời làm mỡ trong máu tích tụ trong gan và gây mỡ gan.

Chính vì vậy máu nhiễm mỡ gan nhiễm mỡ thường đi kèm với nhau và có quan hệ tương sinh.

5. Biến chứng bệnh máu nhiễm mỡ gan nhiễm mỡ

Bệnh máu nhiễm mỡ gan nhiễm mỡ nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời có thể dẫn đến những biến chứng dưới đây:

  • Bệnh tim

Bệnh xơ vữa động mạch với triệu chứng điển hình đau thắt ngực. Tăng nguy cơ mắc bệnh đột quỵ, suy tim, … 

  • Bệnh tiểu đường

Là một căn bệnh mà lượng đường (glucose) trong máu cao hơn bình thường. Theo thời gian, quá nhiều glucose trong máu có thể dẫn đến sự tích tụ mảng bám cao hơn ở bên trong thành mạch máu.

Vì những người mắc bệnh tiểu đường có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao, nên việc giữ cho lượng đường trong máu gần mức bình thường là điều quan trọng để ngăn ngừa điều này và các biến chứng nghiêm trọng khác.

Điều chỉnh huyết áp và mức lipid đặc biệt quan trọng để quản lý nguy cơ bệnh tim mạch. Dạng lipid điển hình nhất trong bệnh tiểu đường bao gồm mức triglyceride cao, mức HDL thấp và các hạt LDL nhỏ, dày đặc, dễ dính vào thành động mạch. Mô hình lipid này có liên quan đến béo phì và kháng insulin.

  • Suy giáp

Hormone tuyến giáp điều chỉnh sự trao đổi chất – cách cơ thể sử dụng và dự trữ năng lượng – và ảnh hưởng đến gần như mọi cơ quan trong cơ thể. Nó cũng đóng một vai trò trong việc điều chỉnh lipid.

Suy giáp (giảm sản xuất hormone tuyến giáp) có thể khiến nhiều chức năng của cơ thể bị chậm lại. Những bệnh nhân này có nồng độ LDL-cholesterol và lượng triglycerid cao.    

  • Hội chứng Cushing

Nhiều người mắc hội chứng Cushing nội sinh (không do dùng thuốc) bị tăng lipid máu do tiếp xúc lâu dài với nồng độ cortisol cao. Một lý do cho tình trạng rối loạn lipid này là cortisol ảnh hưởng đến nơi lưu trữ chất béo, và khi nồng độ cortisol duy trì ở mức cao, chất béo sẽ tích tụ quanh eo.

6. Ý nghĩa các chỉ số trong xét nghiệm máu nhiễm mỡ gan nhiễm mỡ

6.1. Các chỉ số chẩn đoán máu nhiễm mỡ

  • Triglycerid

Mức bình thường: TG < 100 mg/dL (1,7 mmol/L).

Mức cao: 200 – 499 mg/dL (2 – 6 mmol/L): Nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tiểu đường.

  • Cholesterol toàn phần

Mức bình thường: Cholesterol<200 mg/dL (5,1 mmol/L).

Cholesterol: 200 – 239 mg/dL (5,1 – 6,2 mmol/L) người bệnh đang gặp vấn đề sức khỏe, cần điều chỉnh chế độ ăn uống giảm cholesterol, kiểm tra và theo dõi sức khỏe định kỳ.

Mức cao: Cholesterol>= 240 mg/dL (6,2 mmol/L) nguy cơ mắc bệnh xơ vữa động mạch.

  • LDL-cholesterol (LDL-c)

Mức bình thường là: LDL-c <130 mg/dL (<3,3 mmol/L).

Mức cao: LDL-c > 160 mg/dL (>4,1 mmol/L) nguy cơ bị xơ vữa động mạch, rối loạn lipid máu, béo phì,…

  • HDL-cholesterol (HDL-c)

Mức bình thường: HDL-c> 50 mg/dL  (>1,3mmol/L).

Mức thấp: HDL-c<40 mg/dL (<1 mmol/L) nguy cơ xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu,…

6.2. Các chỉ số chẩn đoán gan nhiễm mỡ

Để chẩn đoán tình trạng gan nhiễm mỡ, dựa vào xét nghiệm người ta dùng 4 chỉ số: ALT (SGPT), AST (SGOT), ALP và GGT.

Khi gan hoạt động bình thường, các chỉ số trong ngưỡng dưới đây:

  • Alanine aminotransferase (ALT): 20 đến 40 UI/L.
  • Aspartate aminotransferase (AST): 20 đến 40 UI/L.
  • Phosphatase kiềm (Alkaline phosphatase, ALP): 35-115 UI/L.
  • Gamma-glutamyl transferase (GGT): 3-60 UI/L.

Dựa vào chỉ số ALT và AST thường tăng cao hơn 2-3 lần so với mức bình thường để chẩn đoán gan nhiễm mỡ. Khi tỷ ALT/AST < 1 (mắc gan nhiễm mỡ đơn thuần) và khi chỉ số ALT/AST > 1 (bệnh như xơ hóa gan hay xơ gan).

>>> Xem thêm Chữa Gan Nhiễm Mỡ Bằng Cây Chó Đẻ Đơn giản Và Hiệu Quả

Bài viết trên là những thông tin cơ bản về máu nhiễm mỡ gan nhiễm mỡ. Mọi thắc mắc liên quan đến gan và bệnh lý về gan vui lòng liên hệ đến HOTLINE 1800 6091 để được đội ngũ y bác sĩ giàu kinh nghiệm của THteaShop giải đáp chi tiết hơn.

Chia sẻ bài viết


DMCA.com Protection Status
You cannot copy content of this page
Contact Me on Zalo
1800 6091