Men Gan Tăng Do Nguyên Nhân Từ Đâu Và Triệu Chứng

[banner id="7762"]

Men Gan Tăng Do Nguyên Nhân Từ Đâu Và Triệu Chứng

Nhắc đến men gan tăng chắc rằng nhiều người chúng ta đã nghe về thuật ngữ này và đây là một trong những chứng bệnh rất phổ biến hiện nay. Tuy nhiên, có thể chúng ta chưa có một cái nhìn chính xác và tổng quan về nó. Vậy hôm nay hãy cùng THTeashop tìm hiểu về men gan là gì, men gan tăng cao khi nào, dấu hiệu biểu hiện ra sao..

1. Gan và chức năng chính của gan

Chức năng của gan

Chức năng của gan

Gan nằm ở phần trên bên phải của ổ bụng, ngay dưới cơ hoành. Gan có nhiều chức năng quan trọng đối với sự sống đó là: giải độc; sản xuất các yếu tố đông máu quan trọng, albumin và nhiều protein quan trọng khác; chuyển hóa chất dinh dưỡng, chuyển hóa sản phẩm của quá trình phân huỷ hemoglobin và các tế bào khác; lưu trữ vitamin, chất béo, cholesterol và mật, sản xuất glucose (tạo gluconeogenesis hoặc tổng hợp / giải phóng glucose khi đói)

2. Men gan tăng cao là bệnh gì?

2.1. Enzyme trong gan 

Enzyme bản chất là protein có tác dụng xúc tác quá trình xảy ra các phản ứng hóa học trong cơ thể. Trong gan cũng có một số enzym (men gan), bao gồm alanin transaminase (ALT), aspartate transaminase (AST), phosphatase kiềm (ALP) và gamma-glutamyl transpeptidase (GGT).

Men gan tăng cao cho ta thấy đây có thể là dấu hiệu của tình trạng các tế bào gan bị viêm hay tổn thương. Các tế bào gan bị tổn thương mất cấu trúc sẽ làm thoát ra một số hóa chất nhất định, bao gồm cả men gan, chúng đi vào máu biểu hiện chỉ số men gan tăng cao hơn bình thường khi xét nghiệm máu.

Nếu men gan tăng so với chỉ số bình thường từ 1 đến 2 lần là mức độ nhẹ, 2 đến 5 lần là mức độ trung bình và ở mức độ nặng khi tăng trên 5 lần. Men gan tăng thường là tạm thời và điều chỉnh được.

Men gan có thể trở lại bình thường nhanh chóng nếu một người tuân theo kế hoạch điều trị được khuyến nghị của bác sĩ nếu ở mức độ nhẹ.

2.2. Tăng men gan thường thấy nhất

Alanine Transaminase (ALT)

Phạm vi giá trị bình thường của ALT (SGPT) là khoảng 7 đến 56 UI/L. Trong hầu hết các loại bệnh gan, mức ALT cao hơn AST hay tỷ lệ AST/ALT sẽ nhỏ hơn 1.

Nhưng có một vài trường hợp ngoại lệ: tỷ lệ AST/ALT thường tăng trong viêm gan do rượu, xơ gan, và trong 1 hoặc 2 ngày đầu của tổn thương do tắc nghẽn ống mật hoặc viêm gan cấp.

Với chấn thương tim hoặc cơ, AST thường cao hơn nhiều so với ALT (thường cao gấp 3-5 lần) và có xu hướng duy trì cao hơn ALT lâu hơn so với chấn thương gan. Xét nghiệm AST thường được thực hiện cùng với ALT.

>>> Xem thêm: Men Gan Tang Cao Gây Nguy Hiểm Như Thế Nào Cho Người Bệnh

Men-gan-tang-2

Men gan ALT và AST

Aspartate Transaminase (AST)

Phạm vi giá trị bình thường của AST (SGOT) là khoảng 5 đến 40 UI/L. Nếu mức AST cao hơn 10 lần so với bình thường có thể đó là do viêm gan cấp tính, hoặc nhiễm virus. Nồng độ AST ở mức cao trong khoảng 1-2 tháng đối với viêm gan cấp, nhưng phải mất đến 3-6 tháng mới trở lại bình thường.

Khi tiếp xúc với thuốc hay chất gây độc cho gan cũng như trong các điều kiện gây giảm máu (thiếu máu cục bộ) đến gan, mức độ AST cũng có thể tăng cao lên đến 100 lần bình thường.

Đối với viêm gan mạn tính, nồng độ AST thường không cao hơn 4 lần bình thường. AST thường thay đổi giữa mức bình thường và tăng nhẹ khi mắc bệnh viêm gan mạn tính.

Sự gia tăng vừa phải như vậy cũng có thể được nhìn thấy trong các bệnh khác của gan, đặc biệt là khi các ống dẫn mật bị tắc nghẽn, xơ gan hoặc ung thư gan. AST cũng có thể tăng sau tổn thương cơ hay các cơn đau tim, gấp nhiều lần so với ALT.

AST (SGOT) thường được tìm thấy trong nhiều loại mô bao gồm gan, tim, cơ, thận và não. Nó được giải phóng vào huyết thanh khi bất kỳ một trong những mô này bị tổn thương.

Ví dụ, mức AST trong huyết thanh tăng cao trong các cơn đau tim hoặc chấn thương cơ. Do đó, đây không phải là một dấu hiệu cụ thể về tổn thương gan.

Ngược lại, ALT (SGPT) thường được tìm thấy phần lớn trong gan. Điều này không có nghĩa là nó chỉ có trong gan, nhưng đó là nơi nó tập trung nhiều nhất. Nó được giải phóng vào máu do tổn thương gan. Do đó, ALT đóng vai trò như một chỉ số khá cụ thể về tình trạng gan.

Ngoài ra, còn có men  Alkaline phosphatase (ALP) và Gamma-glutamyl transpeptidase (GGT). Mức bình thường của ALP là khoảng 45 đến 115 U / L, ALP tăng có thể là do tình trạng ứ mật nhưng nó không đặc hiệu vì phosphatase kiềm có phân bố ngoài gan rộng rãi.

Mức bình thường của GGT là khoảng 9 đến 48 U / L và nó đặc hiệu hơn so với tổn thương gan.

3. Men gan tăng do nguyên nhân nào gây ra?

Nguyên nhân của men gan tăng cao rất đa dạng, có thể do nhiều bệnh và tình trạng góp phần tạo nên. 

3.1. Các nguyên nhân thường gặp

3.1.1. Các loại thuốc

Một số loại thuốc có khả năng gây ra mức men gan bất thường bao gồm:

  • Thuốc giảm đau

Aspirin, acetaminophen (Tylenol và những loại khác), ibuprofen (Advil, Motrin), naproxen (Naprosyn, Naprelan, Naproxen, Aleve),diclofenac (Voltaren Cataflam, Voltaren-XR) và phenylbutazone (Butazolidin)

  • Thuốc chống động kinh

Phenytoin (Dilantin), axit valproic (Depakine, Depakote ER, Depakene, Depacon), carbamazepine (Tegretol ,Tegretol XR, Equertro) và phenobarbital

  • Thuốc kháng sinh

Tetracycline, sulfonamid, isoniazid (INH) (Nydrazid, Laniazid), sulfamethoxazole ( Gantanol ), trimethoprim (Trimpex; Proloprim, Primasol), nitrofurantoin (Macrodantin, Furadantin, Macrobid), fluconazole ( Diflucan) và một số thuốc chống nấm khác, v.v.

  • Thuốc giảm cholesterol

Lovastatin (Mevacor, Altocor), pravastatin (Pravachol), atorvastatin (Lipitor), fluvastatin (Lescol), simvastatin (Zocor), rosuvastatin (Crestor) và niacin

  • Thuốc tim mạch

Amiodarone (Cordarone), hydralazine (Apresoline), quinidine (Quinaglute, Quinidex), v.v.

Men-gan-tang-3

Thuốc giảm đau

3.1.2. Một số bệnh phổ biến 

  • Viêm gan siêu vi

Có một số loại viêm gan, nhưng phổ biến nhất là viêm gan siêu vi. Các loại phổ biến nhất của viêm gan virus là viêm gan B và viêm gan C. Khi tế bào gan bị viêm sẽ giải phóng ra lượng lớn men gan.

  • Bệnh gan nhiễm mỡ

Nguyên nhân men gan tăng phổ biến nhất là do bệnh gan nhiễm mỡ. Nghiên cứu cho thấy 25–51% những người bị tăng men gan có tình trạng này.

Gan bình thường có chứa một số chất béo, nhưng nếu tích tụ quá nhiều chất này có thể dẫn đến bệnh gan nhiễm mỡ. Uống một lượng lớn rượu liên tiếp trong thời gian dài có thể gây bệnh này, nhưng bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu đang trở nên phổ biến hơn.

Yếu tố nguy cơ phổ biến gây ra bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu: béo phì, cholesterol cao

3.2. Các nguyên nhân khác

Các nguyên nhân khác có thể gây ra tình trạng men gan tăng bao gồm: bệnh huyết sắc tố (ứ sắt), bệnh Wilson, thiếu alpha-1- antitrypsin, bệnh celiac, viêm gan tự miễn, bệnh Crohn, viêm loét đại tràng… 

Bệnh di truyền

Bệnh Celiac (celiac sprue) là bệnh do ruột non bị dị ứng với gluten gây ra triệu chứng đầy hơi, tiêu chảy, và trong trường hợp nặng là suy dinh dưỡng. Bệnh nhân bị bệnh celiac cũng có thể phát triển mức ALT và AST bất thường ở mức độ nhẹ.

  • Bệnh Wilson

Bệnh Wilson là một rối loạn di truyền với sự tích tụ quá nhiều đồng trong các mô bao gồm gan và não. Đồng dư thừa trong gan có thể dẫn đến viêm gan mạn tính, trong khi đồng trong não có thể gây rối loạn tâm thần và vận động.

  • Hemochromatosis

Hemochromatosis là một rối loạn di truyền trong đó có sự hấp thụ quá mức sắt trong chế độ ăn uống dẫn đến tích tụ sắt trong gan gây ra viêm và sẹo gan. Nếu không được chẩn đoán hoặc không được điều trị, bệnh huyết sắc tố có thể tiến triển thành xơ gan và suy gan.

Benh-huyet-sac-to

Bệnh huyết sắc tố Hemochromatosis

  • Viêm gan không do vi rút

Hai loại viêm gan không do vi rút phổ biến là viêm gan do rượuviêm gan tự miễn. Viêm gan không do vi rút cũng xuất hiện các triệu chứng tương tự như viêm gan do vi rút.

Viêm gan tự miễn dịch là kết quả của tổn thương gan do các kháng thể và hệ thống phòng thủ của chính cơ thể tấn công gan. Các yếu tố di truyền và môi trường được cho là nguyên nhân gây ra điều này.

Viêm gan do rượu là hậu quả của việc uống quá nhiều rượu một cách thường xuyên trong nhiều năm. Nếu người bệnh bị viêm gan do rượu thì cần phải ngừng uống rượu ngay không thì sẽ dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng, thậm chí tử vong.

  • Nhiễm trùng Cytomegalovirus (CMV)

Các bệnh nhiễm trùng do vi rút phổ biến nhất gây ra viêm nhiễm là bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng và nhiễm trùng cytomegalovirus (CMV). Bệnh bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng lây truyền qua đường nước bọt và gây ra: sưng amidan, sưng viêm các hạch bạch huyết, đau họng, lách to, sốt, đau đầu.

Nhiễm trùng CMV phổ biến và lây lan qua một số chất dịch của cơ thể, ví dụ như nước bọt, sữa mẹ, máu, nước tiểu và tinh dịch . Thường thì người bệnh sẽ không có triệu chứng nào trừ khi hệ thống miễn dịch bị suy yếu.

Khi nhiễm CMV gây ra các triệu chứng thì chúng thường tương tự như các triệu chứng của bệnh tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng.

Ngoài ra những nguyên nhân sau cũng có thể tác động làm men gan tăng:

  • Ung thư gan

Men gan bất thường có thể là dấu hiệu của ung thư gan. Ung thư phát sinh từ các tế bào gan được gọi là ung thư biểu mô tế bào gan hoặc u gan. Các khối ung thư lan đến gan từ các cơ quan khác (chẳng hạn như ruột kết, tuyến tụy, dạ dày và những cơ quan khác) là các u ác tính di căn.

>>> Xem thêm: Ung Thư Gan Nên Ăn Hoa Quả Gì Và Ăn Như Thế Nào Là Đúng

  • Bệnh Crohn và viêm loét đại tràng

Đây là những bệnh có tình trạng viêm mạn tính ở ruột (gọi chung là bệnh viêm ruột). Ở những người này, tình trạng viêm gan hoặc đường mật (viêm đường mật xơ cứng nguyên phát) cũng có thể xảy ra, gây ra các xét nghiệm gan bất thường.

Viêm đa cơ (bệnh viêm gây yếu cơ), rối loạn tuyến giáp, viêm gan nhiễm độc (viêm gan do thuốc hoặc chất độc), sử dụng rượu hoặc ma túy, rối loạn chuyển hoá, xơ gan…

4. Triệu chứng của men gan tăng

Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh gan có thể có hoặc không ở những người bị tăng men gan nhẹ nhưng các nguyên nhân cơ bản làm men gan tăng có thể gây ra các triệu chứng.

Men gan tăng

Tổn thương gan dễ gây bầm tím

Các dấu hiệu của tổn thương gan có thể bao gồm vàng da, dễ bầm tím, cổ trướng, lách to. Các triệu chứng của bệnh gan không đặc hiệu và rất nhiều.

Một số triệu chứng bệnh gan phổ biến hơn có thể bao gồm mệt mỏi, ngứa, da vàng, ăn không ngon và khó chịu ở bụng.. Dưới đây là những triệu chứng của những nguyên nhân phổ biến làm tăng men gan

Tổn thương gan dễ gây bầm tím

Bệnh gan nhiễm mỡ

Bệnh gan nhiễm mỡ xảy ra khi một lượng lớn chất béo tích tụ trong gan vượt qua mức bình thường. Nó có thể là do rượu gây ra, khi rượu không phải là yếu tố gây bệnh thì nó được gọi là bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD). Những người bị hội chứng chuyển hóa thường dễ mắc NAFLD hơn người bình thường.

Bệnh gan nhiễm mỡ đôi khi có thể khiến người bệnh mệt mỏi và đau ở bên phải bụng, nhưng thường thì không gây ra triệu chứng nên hầu hết mọi người không biết mình mắc bệnh cho đến khi đi xét nghiệm máu.

Tuy nhiên, một số người bị mệt mỏi, đau bụng nhẹ hoặc gan to mà bác sĩ có thể cảm nhận được khi khám bệnh. Điều trị bệnh gan nhiễm mỡ thường bao gồm thay đổi lối sống, chẳng hạn như ngừng uống rượu, ăn uống và duy trì cân nặng hợp lý.

Viêm gan vi rút

Có một số chủng viêm gan khác nhau tương ứng với vi rút gây bệnh: A, B, C, D và E. Các triệu chứng phổ biến của các chủng hầu như giống nhau, bao gồm: mệt mỏi, đau nhức cơ bắp, đau khớp, buồn nôn, ăn mất ngon, đau bụng, sốt, nước tiểu đậm, ngứa da, vàng mắt và da

Xơ gan

Xơ gan là một loại tổn thương gan. Một người bị xơ gan có sẹo vĩnh viễn ở gan, điều này làm gan hoạt động không bình thường. Xơ gan nặng sẽ dẫn đến suy gan.

Các triệu chứng xơ gan bao gồm mệt mỏi và phát ban, mẩn ngứa trên da. Xơ gan có thể tiến triển từ viêm gan hoặc bệnh gan nhiễm mỡ nếu không được điều trị.

Hội chứng chuyển hóa 

Hội chứng chuyển hóa là một nhóm các chứng bệnh làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim. Các triệu chứng này bao gồm: đường máu cao, huyết áp cao, cholesterol cao

Sử dụng rượu hoặc ma túy

Uống quá nhiều rượu hoặc sử dụng ma tuý có thể dẫn đến viêm hoặc tổn thương gan. Các biểu hiện của viêm gan do rượu hay nhiễm độc tương tự như biểu hiện của các chủng viêm gan khác.

>>> Xem thêm: Men Gan Cao Uống Gì – Top 10 Loại Đồ Uống Nên Dùng

5. Men gan tăng được chẩn đoán như thế nào?

Xét nghiệm máu

Cho phép đánh giá chỉ số men gan tăng cao: AST và ALT, là những enzym rò rỉ từ tế bào gan bị viêm hoặc bị tổn thương.

Nếu bác sĩ phát hiện một người bệnh có dấu hiệu tăng mức AST hoặc ALT thì có khả năng thực hiện các xét nghiệm sâu hơn để xác định nguyên nhân cơ bản. Khi chỉ số AST và ALT vượt qua mức bình thường (ALT > 56 UI/L và AST > 40 UI/L) thì được xem là men gan cao

Các tỷ lệ khác nhau của AST so với ALT có thể chỉ ra các nguyên nhân khác nhau. Nếu rượu hoặc thuốc là nguyên nhân gây ra các xét nghiệm men gan bất thường, việc ngừng uống rượu hoặc dùng thuốc gây nghiện sẽ đưa mức men về bình thường hoặc gần bình thường trong vài tuần đến vài tháng.

Nếu nghi ngờ béo phì là nguyên nhân của bệnh gan nhiễm mỡ, việc giảm cân khoảng 5% đến 10% cũng có thể đưa xét nghiệm máu gan AST và ALT về mức bình thường hoặc gần bình thường ở một số cá nhân.

Nếu men gan bất thường vẫn tồn tại mặc dù đã kiêng rượu, giảm cân và ngừng một số loại thuốc nghi ngờ, các xét nghiệm khác có thể được thực hiện để giúp chẩn đoán. 

Máu có thể được xét nghiệm để tìm sự hiện diện của vi rút viêm gan B và C và các kháng thể liên quan của chúng. Nồng độ sắt trong máu, độ bão hòa sắt và ferritin thường tăng cao ở những người bị bệnh huyết sắc tố. Nồng độ trong máu của một chất được gọi là ceruloplasmin thường giảm ở những người bị bệnh Wilson.

Nồng độ của một số kháng thể trong máu (kháng thể kháng hạt nhân hoặc ANA, kháng thể chống cơ trơn và kháng thể kháng mô gan và thận) ở những người bị viêm gan tự miễn có dấu hiệu tăng cao.

Siêu âm gan và chụp CT vùng bụng

Đôi khi được sử dụng để loại trừ có khối u trong gan hoặc các tình trạng khác như sỏi mật. Các xét nghiệm này cũng có thể cung cấp các thông tin về gan như kích thước và cấu trúc của gan. 

Sinh thiết gan

Đôi khi có thể hỗ trợ xác định nguyên nhân của men gan tăng. Không phải ai có men gan bất thường đều cần sinh thiết gan. Bác sĩ thường sẽ đề nghị thực hiện sinh thiết nếu cần biết mức độ nghiêm trọng của cấu trúc vi thể trong viêm/tổn thương gan.

Sinh thiết gan hữu ích nhất trong việc xác định chẩn đoán một số bệnh bao gồm viêm gan B và C mạn tính, bệnh huyết sắc tố, bệnh Wilson, viêm gan tự miễn và thiếu hụt alpha-1-antitrypsin.

6. Men gan tăng thì nên ăn gì?

Trong khi một số bệnh lý và một số loại thuốc có thể gây mất cân bằng enzym trong gan, chế độ ăn uống cũng đóng một vai trò quan trọng.

men gan tăng

Thực phẩm nên ăn khi bị tăng men gan

Những thực phẩm nên ăn

Thường xuyên sử dụng những thực phẩm giàu folate và axit folic. Chúng có liên quan đến việc giảm mức ALT. Folate là vitamin B9 tự nhiên có trong một số loại thực phẩm. Axit folic là một dạng tổng hợp của B9 được thêm vào thực phẩm chế biến.

Để giúp giảm mức ALT, hãy cân nhắc thêm nhiều thực phẩm giàu folate vào chế độ ăn uống của bạn, chẳng hạn như: rau xanh, bao gồm cải xoăn và rau bina, măng tây, cây họ đậu, bắp cải, củ cải, chuối, đu đủ 

Thực phẩm nên hạn chế

Một chế độ ăn ít chất béo (lipid) và carbohydrate giúp ích trong điều trị và ngăn ngừa NAFLD, nguyên nhân phổ biến nhất làm men gan tăng cao. Một nghiên cứu đã phát hiện ra rằng chế độ ăn ít calo và carbohydrate hơn có hiệu quả trong việc giảm mức ALT ở người lớn thừa cân bị kháng insulin.

Hơn nữa, bạn nên ngừng uống rượu nếu đang sử dụng rượu, hạn chế caffeine, các loại thức ăn nhanh, chiên rán nhiều dầu mỡ và không lạm dụng các loại thuốc.

Qua bài viết này, THteashop mong rằng đã mang đến cho bạn đọc những thông tin hữu ích về men gan tăng. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào cần giải đáp liên quan đến các bệnh lý gan, hãy liên hệ thông qua HOTLINE 1800 6091 để được các chuyên gia tư vấn.

Chia sẻ bài viết


DMCA.com Protection Status
You cannot copy content of this page
Contact Me on Zalo
1800 6091