Thuốc Trị Bệnh Gan Mạn Tính Và Các Chẩn Đoán Điều Trị Bệnh

[banner id="7762"]

Thuốc Trị Bệnh Gan Mạn Tính Và Các Chẩn Đoán Điều Trị Bệnh

Bệnh gan mạn tính là tình trạng suy giảm dần các chức năng của gan như sản xuất các yếu tố đông máu và các protein khác, giải độc các sản phẩm có hại của quá trình trao đổi chất và bài tiết mật. Để ngăn ngừa các biến chứng, bệnh nhân bị bệnh gan mạn tính cần được theo dõi thường xuyên kết hợp với các cách điều trị thích hợp. Bài viết dưới đây chia sẻ một số thuốc trị bệnh gan mạn tính hy vọng mang lại những thông tin bổ ích cho mọi người. 

1. Bệnh gan mạn tính

Bệnh gan mạn tính là bệnh về gan kéo dài trong khoảng thời gian sáu tháng. Bệnh bao gồm một loạt quá trình viêm liên tục, phá hủy và tái tạo nhu mô gan, dẫn đến xơ hóa và xơ gan, ung thư biểu mô tế bào gan. 

Nguyên nhân phổ biến ở bệnh gan mạn tính bao gồm lạm dụng rượu trong thời gian dài, nhiễm trùng, bệnh tự miễn, rối loạn di truyền và chuyển hóa.

Xơ gan là giai đoạn cuối của bệnh gan mạn tính dẫn đến phá vỡ cấu trúc gan, hình thành các nốt lan rộng, tái tổ chức mạch máu, tân tạo mạch và lắng đọng chất nền ngoại bào.

Cơ chế cơ bản của xơ hóa, xơ gan ở cấp độ tế bào là hình thành các tế bào hình sao và nguyên bào sợi, dẫn đến xơ hóa. 

thuoc-tri-benh-gan

Bệnh gan mạn tính

2. Nguyên nhân gây bệnh gan mạn tính

2.1. Nguyên nhân do bệnh lý

Bệnh gan do rượu

Bệnh gan do rượu là một loại bệnh bao gồm gan nhiễm mỡ do rượu có hoặc không kèm theo viêm gan, viêm gan do rượu (có thể hồi phục ở tình trạng cấp tính) đến xơ gan (không hồi phục).

Bệnh nhân sử dụng rượu nhiều hầu hết phát triển thành bệnh gan mạn tính. Đây là nguyên nhân thường xuyên nhất của bệnh gan mạn tính.

Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu 

NAFLD có mối liên quan với hội chứng chuyển hóa (béo phì, tăng lipid máu và đái tháo đường). Một số bệnh nhân này bị viêm gan nhiễm mỡ không do rượu, dẫn đến xơ hóa gan. 

Viêm gan siêu vi mạn tính

Nhiễm trùng viêm gan B, C và D mạn tính là những nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh gan mạn tính. Viêm gan C mạn tính, nếu không được điều trị, có thể dẫn đến ung thư biểu mô tế bào gan.

>>> Xem thêm ngay: Viêm Gan Siêu Vi Thường Gặp Là Những Loại Nào – Có Nguy Hiểm Không

2.2. Nguyên nhân di truyền

  • Thiếu alpha -1 antitrypsin: Là nguyên nhân di truyền phổ biến nhất ở trẻ em mắc bệnh gan mạn tính.
  • Hemochromatosis di truyền

Đây là một bệnh rối loạn hấp thụ sắt do gen lặn trên nhiễm sắc thể. Do một đột biến liên quan đến gen HFE điều chỉnh sự hấp thụ sắt từ ruột, quá nhiều sắt được hấp thụ qua đường tiêu hóa kết quả là, có sự gia tăng bệnh lý trong tổng số sắt trong cơ thể (như ferritin và hemosiderin).

Quá trình này dẫn đến việc tạo ra các gốc tự do hydroxyl, từ đó gây ra xơ hóa các cơ quan.

  • Bệnh Wilson: Rối loạn lặn nhiễm sắc thể dẫn đến tích tụ đồng.
thuoc-tri-benh-gan

Nguyên nhân

2.3. Nguyên nhân tự miễn dịch

  • Viêm gan tự miễn

Là một bệnh hiếm gặp, trong đó có sự phá hủy nhu mô gan bởi các tự kháng thể. Hầu hết những bệnh nhân mắc bệnh này đều đã phát triển thành xơ gan. Ở người trưởng thành, nữ giới thường mắc viêm gan tự miễn nhiều hơn nam giới.

  • Xơ gan mật nguyên phát (PBC)

Đây là một bệnh tự miễn dịch và tiến triển của gan, là sự phá hủy các kênh mật trong gan, viêm và sẹo ở cổng. Nó dẫn đến vàng da ứ mật và xơ hóa nhu mô gan. PBC phổ biến nhiều ở phụ nữ trung niên. 

  • Viêm đường mật xơ cứng nguyên phát (PSC)

Thường liên quan đến viêm loét đại tràng. Tình trạng này được đặc trưng bởi sự giảm kích thước của đường mật trong và ngoài gan do viêm và xơ hóa.

3. Triệu chứng bệnh gan mạn tính

Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh gan mạn tính có thể không đặc hiệu, chẳng hạn như mệt mỏi, chán ăn, sụt cân hoặc phụ thuộc vào biến chứng mà bệnh nhân đã phát triển.

Biến chứng nổi bật là do tăng áp lực tĩnh mạch cửa (giãn tĩnh mạch thực quản, cổ trướng), suy tế bào gan (ví dụ: vàng da, bệnh não gan)… 

3.1. Tăng áp lực tĩnh mạch cửa

Là kết quả của sự cản trở lưu lượng máu đến cửa vì căn nguyên xơ gan và không xơ gan. Nguyên nhân tăng áp lực tĩnh mạch cửa có thể chia thành trước gan (ví dụ, huyết khối tĩnh mạch cửa), tại gan (ví dụ, xơ gan) và sau gan (ví dụ, hội chứng Budd Chiari).

Xơ gan và bệnh sán máng gan vẫn là nguyên nhân phổ biến nhất của tăng áp lực tĩnh mạch cửa, trong đó xơ gan phổ biến hơn ở các nước phát triển. Sau đây là những hậu quả của bệnh tăng áp lực tĩnh mạch cửa.

  • Giãn tĩnh mạch thực quản

Bệnh nhân có biểu hiện nôn ra máu đỏ tươi kèm theo đại tiện ra máu đen và máu tươi. Xơ gan dẫn đến tăng áp lực cửa, có thể gây giãn tĩnh mạch thực quản hoặc dạ dày.

Chảy máu tĩnh mạch thực quản là biến chứng đe dọa tính mạng phổ biến nhất của bệnh gan mạn tính.

  • Cổ trướng

Đó là sự tích tụ chất lỏng trong khoang phúc mạc do áp lực cửa tăng lên (tăng áp lực thủy tĩnh), giảm albumin (giảm áp lực khi vận động). Hầu hết bệnh nhân phát triển cổ trướng ở giai đoạn sau của bệnh xơ gan.

Các phát hiện ở những bệnh nhân này là chướng bụng (dịch ứ đọng), đi ngoài phân đen do rối loạn tiêu hóa. Cổ trướng có thể dẫn đến khó thở hoặc gây cảm giác no sớm.

Triệu chứng

Triệu chứng

3.2. Suy tế bào gan

Bệnh não gan

Đây là một hội chứng tâm thần kinh do rối loạn chức năng gan. Giải độc các sản phẩm có hại của quá trình trao đổi chất, ví dụ, amoniac, xảy ra trong gan.

Ở bệnh nhân xơ gan, việc loại bỏ các chất này ra khỏi cơ thể bị hạn chế, dẫn đến tăng nồng độ amoniac. Nồng độ amoniac tăng cao trong não và máu có thể làm suy giảm ý thức. Gần 50% bệnh nhân gan mạn tính có thể phát triển bệnh não gan. 

Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh, có các mức độ bệnh não gan khác nhau.

  • Mức 0 –  Mức tối thiểu: Cận lâm sàng, trạng thái tâm thần bình thường với những thay đổi tối thiểu về trí nhớ, khả năng phối hợp, chức năng trí tuệ, sự tập trung.
  • Mức độ 1: Thiếu nhận thức căn bản, hưng phấn hoặc lo lắng, thời gian chú ý bị rút ngắn, suy giảm khả năng cộng hoặc trừ, thay đổi nhịp điệu giấc ngủ.
  • Mức độ 2: Hôn mê hoặc thờ ơ, không có khái niệm về thời gian, thay đổi tính cách, hành vi không phù hợp, chứng khó thở, rối loạn nhịp tim.
  • Mức độ 3: Phản ứng với các kích thích, bối rối, mất phương hướng hoàn toàn, hành vi kỳ lạ.
  • Mức 4: Hôn mê

Vàng da

Vàng da là tình trạng mắt, da và niêm mạc đổi màu hơi vàng do sản xuất quá mức hoặc thanh thải của bilirubin. Chuyển hóa hemoglobin hoặc myoglobin tạo ra bilirubin trong lá lách. Bilirubin sau đó lưu thông trong cơ thể, liên kết với albumin.

Gan phân ly phức hợp này và chuyển đổi bilirubin không liên hợp thành bilirubin liên hợp. Vàng da có thể nhìn thấy trên lâm sàng khi bilirubin toàn phần lớn hơn 2 mg/dl.

Như trong bệnh gan mãn tính, nhu mô gan bị phá hủy và nó không liên hợp được với bilirubin, chất này lắng đọng trong các mô khác nhau của cơ thể. 

Vàng da có thể nhìn thấy trên lâm sàng khi bilirubin toàn phần lớn hơn 2 mg/dl. Như trong bệnh gan mạn tính, nhu mô gan bị phá hủy và không liên hợp được với bilirubin, chất này lắng đọng trong các mô khác nhau của cơ thể, gây ngứa vì sự tích tụ của muối mật.

>>> Tìm hiểu ngay: Suy Gan Là Gì, Nguyên Nhân Và Cách Phòng Bệnh Hiệu Quả

4. Chẩn đoán bệnh gan mạn tính

4.1. Yếu tố giúp chẩn đoán bệnh gan

Việc chẩn đoán bệnh gan mạn tính phụ thuộc vào căn nguyên và biến chứng của bệnh. Dưới đây là một số yếu tố giúp chẩn đoán cho các bệnh bệnh gan mạn tính khác nhau.

  • Viêm gan siêu vi B và C

Xét nghiệm chức năng gan, Xét nghiệm đo tải lượng virus. Các xét nghiệm có thể thực hiện sau khi bệnh nhân đã được chẩn đoán nhiễm viêm gan như: xét nghiệm xác định kiểu gen, sinh thiết gan, siêu âm đàn hồi mô gan gián tiếp để xác định mức độ xơ hóa gan.

  • Bệnh gan do rượu

Nồng độ AST> ALT tăng cao kèm theo tiền sử uống rượu mạn tính. Thông thường, tỷ lệ AST: ALT là 2: 1 trong bệnh gan do rượu.

  • Hemochromatosis

Tăng sắt huyết thanh, ferritin, giảm TIBC và sinh thiết gan. Xét nghiệm di truyền có thể phát hiện đột biến trong gen HFE, đặc biệt là C282Y.

  • Bệnh Wilson

Tăng đồng trong nước tiểu, giảm ceruloplasmin huyết thanh và sinh thiết gan. Kiểm tra di truyền cho gen ATP7B.

  • Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu

Chẩn đoán loại trừ và ALT> AST, siêu âm gan. 

  • Viêm gan tự miễn dịch

Tăng ANA (kháng thể kháng nhân), LKM-1(kháng thể IgG chống lại microsome thận gan loại 1).

  • Thiếu alpha 1 antitrypsin

Giảm nồng độ alpha 1 antitrypsin.

  • Xơ gan mật nguyên phát

Mức phosphatase kiềm tăng rõ rệt với một kháng thể kháng tế bào gốc.

  • Budd-Chiari và tắc tĩnh mạch máu

Công thức máu và các nghiên cứu hình ảnh như siêu âm doppler hoặc chụp cắt lớp vi tính với nghiên cứu tương phản.

Chẩn đoán

Chẩn đoán

Trong bệnh gan mạn tính, có tình trạng viêm và phá hủy tế bào gan dẫn đến giải phóng aspartate aminotransferase (AST) và alanine aminotransferase (ALT). Do đó cần quan tâm đến nồng độ của các thông số này trong máu. 

Các thông số khác (ALP và GGT) của LFTs (các xét nghiệm chức năng gan) cũng tăng cao trong tình trạng ứ mật như xơ gan mật tiên phát. AST và ALT thường tăng gấp 2-3 lần giới hạn bình thường.

Như trong bệnh gan mạn tính LFTs còn bù có thể bình thường trong xơ gan. Nồng độ bilirubin (không liên hợp> liên hợp) tăng cao trong bệnh vàng da. Giảm sản xuất các yếu tố đông máu dẫn đến tăng PT/INR và APTT.

Do suy tế bào gan trong xơ gan, mức albumin giảm xuống và amoniac tăng lên, gây ra cổ trướng và bệnh não gan.

Sự gia tăng nồng độ amoniac, chất chuyển hóa tryptophan, axit béo chuỗi ngắn, octopamine, mercaptan, tăng stress oxy hóa và tăng thẩm thấu nội bào là một trong số nhiều nguyên nhân đã được đề xuất là cơ chế phát triển bệnh não gan. 

Trong trường hợp cổ trướng, chọc dò là lựa chọn để xem liệu cổ trướng là do tăng áp lực tĩnh mạch cửa hay nguyên nhân khác. Bằng cách thực hiện phân tích sinh hóa và tế bào học của dịch cổ trướng, tính được gradient albumin dịch cổ trướng trong huyết thanh (albumin dịch cổ trướng huyết thanh).

Nếu gradient này lớn hơn 1,1 thì tăng áp lực tĩnh mạch cửa là một nguyên nhân có thể xảy ra. Nhưng nếu nhỏ hơn 1,1 thì tăng áp lực tĩnh mạch cửa khó có thể xảy ra. 

4.2. Một số kỹ thuật chẩn đoán

Bao gồm siêu âm bụng, chụp CT, chụp cắt lớp, nội soi, điện não đồ, CT ba lần và quét Doppler.

  • Siêu âm bụng

Là một trong những nghiên cứu hình ảnh phổ biến nhất và giá cả phải chăng trong trường hợp bệnh gan mạn tính. Siêu âm phát hiện kích thước, độ hồi âm của nốt gan, từ đó chẩn đoán xơ gan.

Các lợi ích khác của siêu âm trong bệnh gan mạn tính bao gồm đo đường kính tĩnh mạch cửa khi đường kính tĩnh mạch cửa tăng lên trong HTN cửa và đánh giá cục máu đông trong tĩnh mạch gan (Budd-Chari) và tĩnh mạch cửa trong huyết khối tĩnh mạch cửa.

  • Chụp cắt lớp vi tính

Có thể cho thấy tổn thương trong gan hoặc tắc nghẽn các kênh mật một cách chính xác hơn. Tuy nhiên, chụp CT ba chiều là xét nghiệm được lựa chọn trong chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan.

  • Đo độ đàn hồi thoáng qua (TE)

Phát hiện giai đoạn đầu của xơ gan. Cũng có thể phát hiện tổn thương tim mạch ở bệnh nhân NAFLD.

Hoạt động dựa trên hai nguyên tắc vật lý là sự dịch chuyển biến dạng hình ảnh và định lượng sóng biến dạng.

Loại thứ hai bao gồm phương pháp đo đàn hồi sóng cắt điểm. Đo vận tốc của sóng biến dạng đàn hồi tần số thấp (50Hz) lan truyền qua gan. Mô càng cứng thì sóng biến dạng đàn hồi truyền càng nhanh. Có thể dễ dàng hoạt động trên máy siêu âm. 

  • Chụp Doppler

Có thể giúp chẩn đoán Budd-Chiari và huyết khối tĩnh mạch cửa.

  • Điện não đồ

Cho thấy sóng delta trong bệnh não gan.

  • Nội soi trên

Có thể chẩn đoán và điều trị giãn tĩnh mạch thực quản. Trên nội soi, có thể đo kích thước của các biến thể. Biến thể nhỏ nhỏ hơn 5mm và biến thể lớn lớn hơn 5 mm.

  • Sinh thiết gan

Có thể xác định chẩn đoán bệnh gan mạn tính. Các kỹ thuật khác nhau để thực hiện sinh thiết gan là bằng nội soi ổ bụng, qua da hoặc qua da.

5.  Các thủ thuật và thuốc trị bệnh gan mạn tính 

Mục tiêu điều trị là ngăn chặn sự tiến triển của bệnh và các biến chứng, cần có phương pháp tiếp cận đa dạng. Nguyên tắc quản lý chủ yếu là điều chỉnh nguyên nhân, quản lý tăng huyết áp cổng thông tin và các phương pháp điều trị cụ thể cho từng bệnh riêng biệt.

Quản lý chung ở bệnh nhân mắc bệnh gan mạn tính hầu hết đều có một trong các biến chứng.

5.1. Thuốc trị bệnh gan – Các biến chứng 

Giãn tĩnh mạch thực quản 

Chảy máu tĩnh mạch là một trong những biến chứng chết người và việc điều trị bao gồm hồi sức tích cực bằng chất lỏng, thuốc vận mạch (octreotide, terlipressin) và nội soi.

Thắt băng nội soi và tiêm thuốc xơ hóa là những phương pháp thông thường để điều trị chứng chảy máu tĩnh mạch trong trường hợp khẩn cấp. 

Ở một số bệnh nhân, đặt shunt hệ thống cổng trong gan (TIPS) có thể làm tăng tỷ lệ sống sót. Propranolol được sử dụng để dự phòng chính và thứ cấp cho giãn tĩnh mạch thực quản.

Thuốc lợi tiểu (furosemid, spironolactone) và hạn chế natri là những thuốc trị bệnh gan mạn tính cần thiết ở bệnh nhân bị cổ trướng. Truyền albumin cũng có thể được xem xét. 

thuoc-tri-benh-gan

Thuốc trị bệnh gan

Bệnh não gan 

Nguyên tắc cơ bản của điều trị là giải quyết các yếu tố gây kết tủa. Bệnh nhân bị bệnh não gan thường cải thiện khi điều chỉnh nguyên nhân kết tủa cùng với rifaximin và lactulose.

  • Lactulose

Hoạt động bằng cách chuyển đổi amoniac thành ion amoni và làm giảm khả năng hấp thụ qua đường tiêu hóa. Lactulose cũng làm giảm táo bón nhờ tác dụng thẩm thấu của nó, giúp giảm bớt các triệu chứng của bệnh não gan.

  • Rifaximin

Được sử dụng để giảm sản xuất amoniac bởi hệ thực vật đường ruột. Ghép gan là một phương pháp điều trị chữa bệnh ở những bệnh nhân bị hội chứng gan thận.

Hội chứng gan thận 

HRS dựa trên mức độ nghiêm trọng được chia thành hai loại. HRS 1 nghiêm trọng hơn so với HRS 2 (ít nghiêm trọng hơn). Mục tiêu chính là điều chỉnh điều chỉnh nguyên nhân cơ bản để đảo ngược chấn thương thận cấp tính. Phương thức điều trị tùy theo mức độ và cơ địa của người bệnh. 

Phương thức sử dụng thuốc trị bệnh gan này bao gồm norepinephrine hoặc terlipressin với truyền albumin hoặc midodrine, octreotide với truyền albumin.

Thủ thuật TIPS ở một số bệnh nhân có thể hữu ích và ghép gan là phương pháp điều trị dứt điểm duy nhất ở bệnh nhân không đáp ứng với phương pháp điều trị khác.

Ung thư biểu mô tế bào gan

Điều trị dựa trên hệ thống phân loại ung thư gan trong việc quản lý bệnh:

  • Giai đoạn ban đầu (tổn thương HCC đơn lẻ): Cắt bỏ
  • Giai đoạn trung gian: Hóa trị qua động mạch và thuyên tắc vô tuyến
  • Di căn: Sử dụng thuốc trị bệnh gan mạn tính này như sorafenib

Viêm phúc mạc do vi khuẩn tự phát (viết tắt là SBP)

Là tình trạng nhiễm trùng dịch cổ chướng khi không có bất kỳ nguồn nhiễm trùng nào trong ổ bụng, có thể điều trị bằng phẫu thuật. Hiện nay bệnh chủ yếu được điều trị cephalosporin thế hệ thứ ba là kháng sinh được lựa chọn do phổ kháng khuẩn rộng (98% vi sinh vật gây bệnh nhạy cảm với cefotaxim) và tính an toàn cực kỳ tốt.

Tác nhân được sử dụng phổ biến nhất của nhóm kháng sinh này là cefotaxime, mặc dù các tác nhân khác như ceftriaxone và ceftazidime có hiệu quả tương tự. Mặt khác, việc sử dụng fluoroquinolone đường uống là lựa chọn điều trị hợp lý cho những bệnh nhân tỉnh táo và không bị nôn mửa.

>>> Xem bài viết: Thuốc Chữa Viêm Gan B Tốt Nhất Đang Được Sử Dụng Hiện Nay

5.2. Một số phương pháp điều trị cụ thể và thuốc trị bệnh gan mạn tính

Thuốc trị bệnh gan mạn tính

Ức chế virus liên tục với các chất tương tự nucleoside và nucleotide. Thuốc kháng virus tác dụng trực tiếp đạt được sự loại trừ HCV như interferon chất ức chế protease, thuốc ức chế men sao chép ngược.

Bệnh gan do rượu

Kiêng rượu và sử dụng naltrexone làm giảm cảm giác thèm rượu. Acamprosate làm giảm tình trạng bất ổn về thể chất và cảm xúc xảy ra khi bỏ rượu, chẳng hạn như đổ mồ hôi, khó ngủ và cảm giác khó chịu.

Viêm gan tự miễn:

Corticosteroid và các loại thuốc ức chế miễn dịch khác. Corticosteroid có thể giúp ngăn chặn cuộc tấn công. Điều này giúp làm dịu tình trạng viêm gan, giúp ngăn chặn tình trạng xơ gan trở nên tồi tệ hơn.

Ngoài ra, dùng liều cao thuốc prednisone trong thời gian dài có thể gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng. Có thể dùng liều prednisone thấp hơn khi dùng chung với azathioprine.

thuoc-tri-benh-gan

Thuốc trị bệnh gan

Quá tải đồng (bệnh Wilson)

Các chất chelat được sử dụng để loại bỏ lượng đồng dư thừa trong cơ thể ở người bị bệnh Wilson hoặc thừa sắt ở người bị bệnh huyết sắc tố. Penicillamine và trientine được sử dụng để điều trị bệnh Wilson. Deferoxamine được sử dụng để điều trị tình trạng ứ sắt do bệnh huyết sắc tố.

Thiếu alpha-1-antitrypsin:

Cấy ghép gan.

Viêm đường mật nguyên phát (PBC):

Ursodeoxycholic acid.

Viêm đường mật xơ cứng nguyên phát:

Cấy ghép gan.

Hội chứng Budd-Chiari:

Chống đông, làm tan huyết khối hoặc nong mạch có hoặc không đặt stent, TIPS hoặc ghép gan.

Bài viết trên chia sẻ cho một số thông tin về các phương pháp chẩn đoán và một số thuốc trị bệnh gan mạn tính. Nếu bạn có thắc mắc gì hãy để lại bình luận bên dưới hoặc liên hệ ngay tới HOTLINE: 18006091 để được nhóm Dược sĩ, Bác sĩ đến từ THTea Shop giải đáp nhé.

Chia sẻ bài viết


DMCA.com Protection Status
You cannot copy content of this page
Contact Me on Zalo
1800 6091