Ung Thư Gan Giai Đoạn Đầu Là Gì Và Những Cách Chữa Trị Căn Bệnh Này

[banner id="7762"]

Ung Thư Gan Giai Đoạn Đầu Là Gì Và Những Cách Chữa Trị Căn Bệnh Này

Gan là cơ quan nội tạng lớn nhất trong cơ thể. Gan nằm ngay dưới phổi phải và được bảo vệ bởi các xương sườn dưới bên phải của cơ thể. Ung thư gan là khi các tế bào bắt đầu phân chia một cách bất thường, phát triển một cách bất kiểm soát. Có nhiều giai đoạn của ung thư gan trong đó ung thư gan giai đoạn đầu ít những biểu hiện rõ ràng để có thể chẩn đoán một cách chính xác. Theo một thống kê, khoảng 6100 người được chẩn đoán mắc ung thư gan mỗi năm ở Anh. Trong đó, bệnh nhân ung thư gan giai đoạn đầu có tỷ lệ sống thêm 5 năm là 33%. Ung thư gan phổ biến hơn ở nam giới, nguy cơ phát triển ung thư gan càng cao khi tuổi càng lớn. Bài viết này sẽ đem đến cho bạn những kiến thức căn bản về ung thư gan giai đoạn đầu và các biểu hiện để phát hiện sớm căn bệnh này.

ung-thu-gan-giai-doan-dau-1

Ung thư gan

1. Ung thư gan giai đoạn đầu là gì?

Việc phân chia giai đoạn ung thư được dựa theo kích thước của khối u và xem xét rằng liệu nó có di căn đến bất kỳ nơi nào khác trong cơ thể hay không. Có nhiều hệ thống phân chia giai đoạn khác nhau mà bác sĩ có thể sử dụng cho bệnh nhân bị ung thư gan. Hệ thống số là một trong những hệ thống phân chia này. Dựa theo hệ thống ung thư gan được chia thành 4 giai đoạn chính.

Ung thư gan giai đoạn đầu hay còn gọi là ung thư gan giai đoạn 1 được chia thành 2 giai đoạn, giai đoạn 1A và giai đoạn 1B

  • Giai đoạn 1A: có nghĩa là có một khối u duy nhất trong gan từ 2cm trở xuống và nó có thể đã được phát triển trong thành mạch máu (xâm lấn vi mạch) hoặc không
  • Giai đoạn 1B: có nghĩa là có một khối u lớn hơn 2cm và chưa phát triển vào mạch máu.

Ung thư gan giai đoạn đầu chưa lây lan đến các hạch bạch huyết hoặc bất kỳ nơi nào khác trong cơ thể.

 

 

 

 

ung-thu-gan-giai-doan-dau-6

Ung thư gan giai đoạn đầu

2. Nguyên nhân gây ra ung thư gan giai đoạn đầu

Ung thư gan nguyên phát hay còn được gọi là ung thư biểu mô tế bào gan, xảy ra ở tế bào gan đã bị tổn thương từ trước do dị tật bẩm sinh, sử dụng rượu quá mức hoặc do các bệnh nhiễm trùng mạn tính như bệnh liên quan đến huyết sắc tố (một bệnh di truyền liên quan đến quá nhiều sắt trong gan và xơ gan). Có nhiều hơn một nửa số người được chẩn đoán mắc bệnh ung thư gan nguyên phát đã bị mắc xơ gan-một tình trạng sẹo của gan thường xảy ra do việc lạm dụng rượu. Ung thư gan giai đoạn đầu cũng có thể có liên quan đến béo phì và bệnh gan nhiễm mỡ.

Ung thư nguyên phát có thể liên quan tới một số chất gây ung thư bao gồm một số chất diệt cỏ và hóa chất như vinyl clorua và asen. Hút thuốc, lạm dụng rượu sẽ làm tăng nguy cơ mắc ung thư gan. Aflatoxin là một chất gây ung thư do một loại nấm mốc thực vật tạo ra. Aflatoxin có thể gây hại cho lúa mì, đậu phộng, gạo, ngô và đậu nành.

nguyen-nhan

Nguyên nhân gây ung thư gan giai đoạn đầu

2.1. Lối sống

Lối sống không lành mạnh là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ung thư gan giai đoạn đầu.

Một số nguyên nhân sau ảnh hưởng đến tình trạng bệnh lý dẫn đến ung thư gan giai đoạn đầu:

Sử dụng nhiều rượu

Lạm dụng rượu là nguyên nhân phổ biến của bệnh xơ gan, làm tăng nguy cơ ung thư gan của bệnh nhân.

Hút thuốc

Hút thuốc lá có khả năng làm tăng nguy cơ phát triển ung thư gan.

Steroid đồng hóa

Được sử dụng bới các vận động viên để tăng sức mạnh và khối lượng cơ, việc sử dụng steroid đồng hóa (kích thích tố nam) trong thời gian dài có thể làm tăng nhẹ nguy cơ phát triển ung thư gan. Các steroid giống cortisone như hydrocortisone, dexamethasone và prednisone không mang lại nguy cơ tương tự.

Asen

Tiếp xúc lâu dài với asen tự nhiên thông qua nước uống (nhiễm bẩn ở một số giếng) làm tăng nguy cơ phát triển của ung thư gan.

Aflatoxin

Đây là một chất gây ung thư được tạo ra bởi một loại nấm gây hại cho lúa mì, ngô, đậu nành, gạo và một số loại hạt. Nhiễm khuẩn thường xảy ra do bảo quản thực phẩm trong môi trường ẩm, ấm, phổ biến hơn ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Tiếp xúc lâu dài với aflatoxin là một yếu tố nguy cơ chính của ung thư gan, đặc biệt là ở những người bị nhiễm trùng viêm gan B hoặc C.

Tiếp xúc với một số hóa chất

Tiếp xúc với vinyl clorua (hóa chất được sử dụng để sản xuất một số chất dẻo) và thorium dioxide (hóa chất trước đây được sử dụng trong chụp X-quang) có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư gan.

2.2. Bệnh lý

Một số bệnh lý có thể là nguy cơ và làm trầm trọng hơn tình trạng bệnh của ung thư gan giai đoạn đầu:

Xơ gan

Xơ gan xuất hiện khi các tế bào gan bị tổn thương và được thay thế bằng các mô sẹo. Những người bị xơ gan có nguy cơ dẫn đến ung thư gan giai đoạn đầu cao hơn những người không bị. Trong hầu hết các trường hợp (lên đến 90% các trường hợp ở Hoa Kỳ), những người phát triển ung thư tế bào gan nguyên phát có bệnh xơ gan tiềm ẩn. Xơ gan do một số yếu tố gây ra. Bên cạnh việc lạm dụng rượu và viêm gan B hoặc viêm gan C mạn tính, viêm gan nhiễm mỡ không do rượu (NASH là một bệnh gan nhiễm mỡ thường thấy ở những người béo phì uống ít hoặc không uống rượu), một số loại bệnh chuyển hóa di truyền và bệnh tự miễn dịch có thể gây ra xơ gan.

>>>Xem thêm: Bệnh Xơ Gan Cổ Trướng Giai Đoạn Cuối

Các bệnh chuyển hóa

Nhiều loại bệnh chuyển hóa di truyền có khả năng gây xơ gan và tăng khả năng phát triển ung thư gan. Hemochromatosis di truyền (một rối loạn quá tải sắt tích tụ dự trữ sắt trong cơ thể bao gồm cả gan), tyrosinemia (nồng độ acid amin tyrosine tăng cao), thiếu alpha-1-antitrypsin, bệnh porphyria cutanea tarda (bệnh thiếu hụt tổng hợp heme), bệnh tích trữ glycogen và bệnh Wilson (nồng độ đồng trong gan tăng cao) là những bệnh hiếm gặp có thể làm tổn thương gan và làm tăng nguy cơ ung thư gan của bệnh nhân.

Bệnh đái tháo đường

Mắc bệnh đái tháo đường cũng có thể làm tăng nguy cơ phát triển ung thư gan.

2.3. Các yếu tố khác

Ngoài các nguyên nhân trên thì có một số yếu tố sau cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của ung thư gan giai đoạn đầu:

Tuổi

Theo một nghiên cứu ở Hoa kỳ, tuổi trung bình khởi phát ung thư gan là 63 tuổi.

Giới tính

Nam giới có nhiều khả năng bị ung thư gan hơn phụ nữ, cứ 2 nam giới mắc ung thư gan thì có 1 phụ nữ bị mắc.

Chủng tộc và sắc tộc

Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ ung thư gan cao nhất ở người Mỹ gốc Á và người dân sinh sống ở các đảo quanh Thái Bình Dương. Người Mỹ da trắng có nguy cơ mắc bệnh ung thư gan thấp nhất. Nhiễm vi rút viêm gan B hoặc vi rút viêm gan C mãn tính là yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư gan giai đoạn đầu phổ biến nhất. Cả hai loại vi rút viêm gan B và viêm gan C đều có thể lây lan từ người này sang người khác khi dùng chung kim tiêm bị ô nhiễm (chẳng hạn như sử dụng ma túy), quan hệ tình dục không an toàn hoặc lây từ mẹ sang con. Các vi rút này cũng có thể được truyền qua đường máu, mặc dù nguy cơ này đã giảm đáng kể.

Béo phì

Béo phì có thể làm tăng nguy cơ phát triển ung thư gan giai đoạn đầu, có thể là thông qua sự phát triển của bệnh viêm gan nhiễm mỡ không phải do sử dụng rượu và cuối cùng là xơ gan.

3. Các triệu chứng thường gặp của bệnh

Các triệu chứng, biểu hiện của ung thư gan giai đoạn đầu thường mơ hồ và không xuất hiện rõ ràng cho đến khi ung thư ở giai đoạn cuối.

Các triệu chứng có thể bao gồm:

  • Giảm cân không giải thích được, không có nguyên nhân.
  • Mất cảm giác ăn ngon.
  • Cảm thấy rất no sau khi ăn, ngay cả khi là bữa ăn nhỏ.
  • Đau hoặc sưng ở vùng bụng.
  • Vàng da (vàng da và lòng trắng của mắt chuyển sang màu vàng).
  • Ngứa da.
  • Cảm thấy mệt mỏi và yếu ớt.
  • Nước tiểu có màu sẫm hơn và màu của phân nhợt nhạt hơn bình thường.
  • Cảm thấy bệnh hoặc bị bệnh.
  • Bụng rất sưng không liên quan đến khi ăn.

 

trieu-chung

Triệu chứng của ung thư gan giai đoạn đầu

>>>Xem thêm: Triệu Chứng Ung Thư Gan Giai Đoạn Đầu Cần Biết Trước Khi Quá Muộn

4. Chẩn đoán ung thư gan giai đoạn đầu

Để chẩn đoán chính xác, bệnh nhân cần đến gặp bác sĩ và thực hiện một số xét nghiệm để chẩn đoán ung thư gan giai đoạn đầu như:

4.1. Tầm soát ung thư gan

Nếu bệnh nhân thuộc nhóm có nguy cơ cao phát triển lên thành ung thư gan, việc tầm soát thường xuyên là việc quan trọng. Nếu ung thư được chẩn đoán càng sớm thì cơ hội chữa khỏi càng lớn.

Việc giám sát thường được thực hiện sáu tháng một lần và thường bao gồm:

  • Quét siêu âm: Sóng âm tần số cao được sử dụng để tạo ra hình ảnh về gan, có thể phát hiện bất kỳ bất thường nào xuất hiện trong gan.
  • Xét nghiệm máu: Máu của bệnh nhân được kiểm tra xem thử có một loại protein gọi là alpha-fetoprotein (AFP), được tìm thấy ở một số người bị ung thư gan.

Theo dõi thường xuyên được khuyến cáo nếu như bệnh nhân bị xơ gan, mặc dù có những yếu tố khác cũng có thể ảnh hướng đến nguy cơ ung thư gan.

4.2. Các xét nghiệm khác

Một số các xét nghiệm khác có thể được sử dụng là:

Xét nghiệm chức năng gan

Là một xét nghiệm trong đó mẫu máu được kiểm tra để đo lượng chất được gan thải vào máu. Nếu lượng chất này có trị số cao hơn bình thường có thể là dấu hiệu của ung thư gan.

Chụp CT (quét CAT)

Là xét nghiệm tạo ra một loạt các hình ảnh chi tiết của các khu vực bên trong cơ thể, chẳng hạn như bụng, được chụp từ các góc độ khác nhau. Hình ảnh được tạo ra bởi một máy tính liên kết với một máy X-quang. Một loại thuốc nhuộm có thể được tiêm vào tĩnh mạch hoặc uống để giúp đỡ các cơ quan hoặc mô xuất hiện rõ ràng hơn. Quá trình này còn được gọi là chụp cắt lớp vi tính. Hình ảnh được chụp vào ba thời điểm khác nhau sau khi thuốc nhuộm được tiêm để cho ra hình ảnh tốt nhất về các khu vực bất thường trong gan. Kỹ thuật này được gọi là CT ba pha. Một xoắn ốc CT scan tạo ra một loạt các hình ảnh rất chi tiết về các khu vực bên trong cơ thể bằng cách sử dụng máy X-quang quét.

MRI (chụp cộng hưởng từ)

Một thủ thuật sử dụng nam chân, sóng vô tuyến và máy tính để tạo ra một loạt các hình ảnh chi tiết về các chỗ bên trong cơ thể, chẳng hạn như gan. Quá trình này còn được gọi là chụp cộng hưởng từ hạt nhân. Để cho ra hình ảnh chi tiết và sắc nét của các mạch máu trong và gần gan, thuốc nhuộm được tiêm vào tĩnh mạch. Hình ảnh có thể được chụp vào ba thời điểm khác nhau sau khi thuốc nhuộm được tiêm, để có hình ảnh tốt nhất về các vùng bất thường trong gan.

Siêu âm gan

Một thủ thuật trong đó sóng âm năng lượng cao bị dội lại từ các mô hoặc cơ quan bên trong và tạo ra tiếng vang. Những âm thanh tạo thành một hình ảnh của các mô cơ thể gọi là siêu âm. Hình ảnh có thể được in ra xem sau.

 ung-thu-gan-giai-doan-dau-3

Siêu âm gan

5. Điều trị ung thư gan giai đoạn đầu

Việc điều trị ung thư sẽ phụ thuộc vào từng giai đoạn và ngoài ra còn phụ thuộc vào các yếu tố:

  • Ung thư ở vị trí nào.
  • Gan hoạt động như thế nào.
  • Các yếu tố sức khỏe khác của cơ thể.

Với các bệnh nhân bị ung thư gan giai đoạn đầu có một số phương pháp điều trị sau:

5.1. Phẫu thuật cắt bỏ một phần gan

Tùy thuộc vào kích thước của khối ung thư và vị trí của nó trong gan, có thể thực hiện phẫu thuật cắt bỏ một phần gan của mình. Để thực hiện được loại phẫu thuật này, phần gan còn lại phải khỏe mạnh, và hoạt động bình thường.

5.2. Ghép gan

Các bác sĩ có thể đề nghị thực hiện ghép gan, nghĩa là toàn bộ gan sẽ được loại bỏ và thay thế bằng một lá gan hiến tặng khỏe mạnh. Để cấy ghép được có thể phải đợi một thời gian dài và cấy ghép khi chỉ đang ở gan. Trong khi chờ đợi cấy ghép bạn sẽ phải thực hiện các phương pháp điều trị khác để kiểm soát ung thư.

ung-thu-gan-giai-doan-dau-2

Ghép gan

5.3. Liệu pháp thuyên tắc

Liệu pháp này nghĩa là sử dụng các chất để ngăn chặn hoặc làm giảm lưu lượng máu qua động mạch gan đến khối u. Khi khối ung thư không nhận được oxy, máu và các chất dinh dưỡng cần thiết nó sẽ không phát triển. Liệu pháp này được áp dụng cho các bệnh nhân không thể phẫu thuật loại bỏ khối u hoặc để kiểm soát ung thư trong khi chờ ghép gan.

Gan nhận máu từ 2 con đường là tĩnh mạch cửa gan và động mạch gan. Các tế bào gan khỏe mạnh thường nhận máu từ tĩnh mạch cửa. Máu bắt đầu xuất phát từ động mạch gan thường đi đến khối u. Khi động mạch gan bị tắc nghẽn trong quá trình sử dụng liệu pháp, các mô gan khỏe mạnh vẫn tiếp tục nhận được máu và chất dinh dưỡng từ tĩnh mạch cửa gan.

Có hai loại liệu pháp thuyên tắc chính:

Thuyên tắc động mạch (TAE-Transarterial embolization)

Một vết cắt nhỏ được tạo ra và một ống thông mỏng được luồn vào động mạch gan. Sau khi đã đặt ống thông, một chất ngăn chặn động mạch gan và ngăn dòng máu đến khối u sẽ được truyền qua ống.

Hóa trị liệu xuyên động mạch (TACE-Transarterial chemoembolization)

Quy trình này giống như thuyên tắc động mạch (TAE) nhưng sử dụng một loại thuốc chống ung thư. Phương pháp này có thể được thực hiện bằng cách gắn thuốc chống ung thư vào các hạt nhỏ và tiêm vào động mạch gan hoặc tiêm các thuốc chống ung thư thông qua ống thông vào động mạch gan sau đó bơm chất làm tắc động mạch gan. Hầu hết thuốc chống ung thư bị giữ lại gần khối u và chỉ một lượng nhỏ thuốc đến được các bộ phận khác của cơ thể.

5.4. Liệu pháp cắt bỏ các khối u

Một số phương pháp thực hiện cắt bỏ khối u:

Cắt bỏ bằng sóng vô tuyến

Là phương pháp sử dụng kim đặc biệt được đưa trực tiếp qua da hoặc qua một vết rạch ở bụng để tiếp cận với khối u. Sóng vô tuyến năng lượng cao làm nóng các kim và tiêu diệt các tế bào ung thư.

Liệu pháp vi sóng

Là một loại điều trị trong đó khối u tiếp xúc với nhiệt độ cao do vi sóng tạo ra. Việc này có thể làm hỏng và tiêu diệt các tế bào ung thư hoặc làm cho chúng nhạy cảm hơn với tác động của bức xạ và một số loại thuốc chống ung thư.

Tiêm ethanol qua da

Một phương pháp điều trị ung thư trong đó một kim nhỏ được sử dụng để tiêm ethanol (cồn nguyên chất) trực tiếp vào khối u để tiêu diệt tế bào ung thư.

Cryoablation

Một phương pháp điều trị sử dụng một công cụ để đông lạnh và tiêu diệt các tế bào ung thư. Phương pháp này còn được gọi là phương pháp áp lạnh hay phẫu thuật lạnh.

Liệu pháp đốt điện

Phương pháp điều trị đưa các xung điện qua một điện cực đặt trong khối u để tiêu diệt tế bào ung thư.

5.5. Xạ trị

Xạ trị là một phương pháp trị liệu bằng cách sử dụng tia X có năng lượng cao hoặc các loại bức xạ để tiêu diệt tế bào ung thư hoặc kìm hãm sự sinh sôi của tế bào ung thư.

Có hai loại xạ trị:

Xạ trị bên ngoài: Sử dụng một máy bên ngoài cơ thể để truyền bức xạ đến tế bào ung thư. Một số phương pháp xạ trị có thể ngăn tia bức xạ không làm tổn hại đến các tế bào khỏe mạnh lân cận.

Một số phương pháp xạ trị bên ngoài bao gồm:

  • Xạ trị chính xác: Là một loại xạ trị bên ngoài sử dụng máy tính để tạo ra hình ảnh 3 chiều (3D) của khối u và định hình các chùm tia bức xạ để phù hợp với khối u. Điều này cho phép liều lượng bức xạ cao tiếp cận khối u và ít gây tổn thương hơn cho các mô khỏe mạnh lân cận.
  • Xạ trị lập thể định vị thân: Thiết bị đặc biệt được sử dụng để đặt bệnh nhân ở cùng một vị trí cho mỗi lần xạ trị. Mỗi ngày một lần trong vài ngày, một máy bức xạ với một liều lượng bức xạ lớn hơn bình thường truyền trực tiếp vào khối u. Bằng cách để bệnh nhân ở cùng một vị trí cho mỗi lần điều trị, sẽ ít làm tổn thương các mô khỏe mạnh lân cận. 
  • Xạ trị bằng chùm tia proton: Liệu pháp chùm tia proton là liệu pháp bức xạ bên ngoài năng lượng cao. Một máy xạ trị nhắm vào mục tiêu chiếu các luồng proton (các hạt cực nhỏ, vô hình, mang điện tích dương) vào các tế bào ung thư để tiêu diệt chúng. Loại điều trị này ít gây ra tổn thương cho các mô lành gần đó.

Xạ trị bên trong: dùng một chất phóng xạ được bảo quản kín trong kim tiêm hoặc ống thông được đặt trực tiếp vào trong hoặc gần khối ung thư.

>>>Xem thêm: Điều Trị Ung Thư Gan Bằng Thuốc Nam Khoa Học Hiệu Quả Nhất

Ung thư gan giai đoạn đầu không có những triệu chứng rõ rệt, khiến việc chẩn đoán và điều trị gặp nhiều khó khăn. Thông qua bài viết này, chúng tôi hy vọng sẽ đem đến cho bạn và người thân của bạn những kiến thức về bệnh và các triệu chứng của ung thư gan giai đoạn đầu, từ đó có thể chọn ra hướng điều trị phù hợp và kịp thời.

Liên hệ HOTLINE 1800.6091 để được THTea Shop tư vấn miễn phí.

Chia sẻ bài viết


DMCA.com Protection Status
You cannot copy content of this page
Contact Me on Zalo
1800 6091