Viêm Gan B Cấp Tính Và Cách Điều Trị Như Thế Nào

[banner id="7762"]

Viêm Gan B Cấp Tính Và Cách Điều Trị Như Thế Nào

Viêm gan B cấp tính là một bệnh nguy hiểm xảy ra ở các bệnh nhân mắc vi-rút HBV (Hepatitis B virus). Mặc dù tỉ lệ xảy ra của bệnh này khá thấp nhưng biến chứng đem đến cho người bệnh rất nặng nề, thậm chí là tử vong. Và ở bài viết này, chúng tôi sẽ giúp bạn biết được viêm gan B cấp tính là gì, triệu chứng cũng như cách điều trị của bệnh ra sao.

1. Viêm gan B cấp tính là gì?

Định nghĩa về viêm gan B cấp tính

Định nghĩa về viêm gan B cấp tính

Viêm gan B cấp tính là một bệnh xảy ra trong vòng 6 tháng đầu tiên sau khi một bệnh nhân bị nhiễm vi rút viêm gan B. Một số người bị viêm gan B cấp tính hoàn toàn không có triệu chứng hoặc chỉ bị bệnh nhẹ, đối với trường hợp bệnh nặng hơn cần phải có sự theo dõi, điều trị từ bác sĩ có chuyên môn.

Trong năm 2018, có tổng cộng 3.322 trường hợp mắc bệnh viêm gan B cấp tính đã được báo cáo cho Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kì (CDC). Vì nhiều người có thể không có triệu chứng hoặc không biết mình bị nhiễm bệnh, bệnh của họ thường không được chẩn đoán nên không thể báo cáo hoặc thống kê được. CDC ước tính số trường hợp viêm gan B cấp tính thực tế là gần 21.600 vào năm 2018. Ước tính có khoản 862000 người đang sống với bệnh viêm gan B mạn tính.

2. Các triệu chứng thường gặp và biến chứng của bệnh

Các triệu chứng bắt đầu xảy ra sau khoảng 3 tháng sau khi tiếp xúc với vi rút, nhưng chúng có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào từ 8 tuần đến 5 tháng sau khi tiếp xúc. Chúng thường kéo dài vài tuần, nhưng một số người có thể cảm thấy bệnh kéo dài đến 6 tháng.

Cần lưu ý rằng, nhiều người bị viêm gan B cấp tính không có triệu chứng, nhưng họ vẫn có thể lây vi-rút cho người khác.

Các triệu chứng của viêm gan B cấp tính bao gồm vàng da, sốt, đau bụng, kém ăn, buồn nôn, nôn, mệt mỏi, nước tiểu sẫm màu, phân màu nhạt, đau cơ và khớp và phát ban. Gan cũng có thể sưng to.

Khi bệnh ở thể nặng có thể bắt đầu với mệt mỏi và buồn nôn, nhưng trong vài tuần, các dấu hiệu và triệu chứng trở nên rõ rệt. Triệu chứng vàng da cũng xuất hiện, khoảng hai tuần sau đó, dẫ đến biến chứng là bệnh não gan. Đây là tình trạng tinh thần bị suy giảm hoặc thay đổi do gan bị tổn thương không có khả năng loại bỏ chất độc ra khỏi máu.

  • Ở dạng nhẹ, có thể bị mất trí nhớ ngắn hạn, hay quên, nói lắp, tính cách hành vi nhỏ hoặc thay đổi hành vi, hoặc thay đổi cách ngủ.
  • Ở dạng nghiêm trọng, một người có thể bị mất trí nhớ (không biết ngày, tháng, năm, tên hoặc địa chỉ của chính họ), nhầm lẫn, biểu hiện hành vi không phù hợp, phối hợp kém, asterixis (vỗ tay không kiểm soát) và hôn mê. Có tới 85% những người xảy ra biến chứng trên não sẽ chết nếu không được ghép gan.

>>> Xem thêm ngay: 8 Biểu Hiện Của Bệnh Viêm Gan B Giai Đoạn Đầu Điển Hình

3. Cách thức lây lan của bệnh viêm gan B như thế nào?

Cách thức lây truyền của viêm gan B

Các con đường lây nhiễm phổ biến của virus viêm gan B

Viêm gan B lây truyền qua 3 con đường chính: máu, quan hệ tình dục và từ mẹ sang con. Cách thức xâm nhập là:

  • Lây từ mẹ bị nhiễm bệnh sang trẻ trước, trong hoặc sau khi sinh.
  • Quan hệ tình dục với người chứa mầm bệnh trong người.
  • Dùng chung kim tiêm, ống tiêm, dụng cụ pha chế thuốc hoặc các dụng cụ sắc nhọn khác
  • Dùng chung các vật dụng cá nhân bao gồm dao cạo râu, bàn chải đánh răng hoặc một số thiết bị y tế như máy đo đường huyết..v.v..
  • Tiếp xúc trực tiếp với vết thương hở hoặc máu của người nhiễm HBV (bao gồm cả truyền máu)

4. Chẩn đoán viêm gan B cấp tính

Một vài xét nghiệm trên lâm sàng dùng để sàng lọc vi rút viêm gan A, B và C:

  • Kháng nguyên bề mặt viêm gan B (viết tắt là HBsAg)
  • Kháng thể IgM đối với lõi viêm gan B (IgM anti-HBc)
  • Kháng thể với virus viêm gan C (anti-HCV) và PCR của virus viêm gan C (HCV-RNA)

Nếu bất kỳ xét nghiệm nào trong số các xét nghiệm viêm gan B đều dương tính, có thể cần thêm xét nghiệm huyết thanh để phân biệt cấp tính với nhiễm trùng trong quá khứ hoặc mạn tính. Xét nghiệm tìm kháng nguyên viêm gan B (HBeAg) và kháng thể kháng nguyên e viêm gan B (anti-HBe) thường được thực hiện để giúp xác định tiên lượng và hướng dẫn điều trị kháng vi-rút. 

Viêm gan B có ít nhất 3 hệ thống kháng nguyên-kháng thể riêng biệt có thể được kiểm tra:

  • HBsAg
  • Kháng thể lõi vi-rút viêm gan B (HBcAb)
  • HBeAg

HBsAg đặc trưng xuất hiện trong thời gian ủ bệnh, thường từ 1 đến 6 tuần trước khi các triệu chứng lâm sàng xuất hiện. Kháng thể bảo vệ tương ứng của cơ thể (anti-HBsAg) xuất hiện sau đó vài tuần hoặc vài tháng, sau khi phục hồi về mặt lâm sàng, và thường tồn tại suốt đời; do đó, sự của kháng thể này cho thấy nhiễm HBV trong quá khứ và khả năng miễn dịch tương đối.

Trong 5 đến 10% bệnh nhân, HBsAg vẫn tồn tại và không có sự phát triển của kháng thể. Những bệnh nhân này trở thành người mang vi rút không có triệu chứng hoặc phát triển thành viêm gan mạn tính.

HBcAb là kháng thể đối với lõi vi-rút. Kháng nguyên lõi viêm gan B (HBcAg) có thể phát hiện được trong tế bào gan bị nhiễm bệnh. Kháng thể với HBcAg (anti-HBc hoặc HBcAb) thường xuất hiện khi bắt đầu bệnh lâm sàng; sau đó, hiệu giá giảm dần.

Sự hiện diện của nó với anti-HBs cho thấy sự phục hồi sau nhiễm HBV trước đó. Anti-HBc cũng có ở những người mang HBsAg hoặc những người không đáp ứng với anti-HBsAg. Trong nhiễm trùng cấp tính, anti-HBc chủ yếu thuộc lớp IgM, trong khi trong nhiễm trùng mạn tính, IgG anti-HBc chiếm ưu thế. IgM anti-HBc là một dấu hiệu nhạy cảm của nhiễm HBV cấp tính và đôi khi là dấu hiệu duy nhất của loại nhiễm trùng này.

HBeAg là một protein có nguồn gốc từ lõi của virus (không nên nhầm lẫn với virus viêm gan E). Chỉ xuất hiện trong huyết thanh, HBeAg phản ánh sự nhân lên của virus và khả năng lây nhiễm cao hơn.

Ngược lại, sự hiện diện của kháng thể tương ứng (anti-HBe) cho thấy khả năng lây nhiễm thấp hơn. Do đó, các dấu hiệu kháng nguyên e hữu ích hơn trong việc tiên lượng. Bệnh gan mạn tính phát triển thường xuyên hơn ở những bệnh nhân có HBeAg và ít xảy ra hơn ở những bệnh nhân có anti-HBe.

Các xét nghiệm khác:

  • Xét nghiệm tổn thương tế bào gan bao gồm alanin aminotransferase huyết thanh (ALT), aspartate aminotransferase (AST) và phosphatase kiềm.
  • Các xét nghiệm khác nên được thực hiện để đánh giá chức năng gan bao gồm albumin huyết thanh, bilirubin, và thời gian prothrombin / thời gian đông máu (PT / INR).

>>> Xem thêm ngay: Viêm Gan Siêu Vi B Có Nguy Hiểm Không

5. Phòng ngừa viêm gan B cấp tính thông qua tiêm chủng

Tiêm vắc xin giúp ngăn ngừa vi-rút HBV

Tiêm vắc xin giúp ngăn ngừa vi-rút HBV

Cách an toàn, hiệu quả nhất để ngăn ngừa sự lây nhiễm vi-rút  viêm gan B là tiêm phòng vắc xin. Cần hoàn thành loạt mũi tiêm (2, 3 hoặc 4 liều, tùy thuộc vào nhà sản xuất) để được bảo vệ toàn diện.

Tiêm phòng vắc xin viêm gan B được khuyến cáo cho các đối tượng bao gồm:

  • Tất cả trẻ sơ sinh, trẻ em và thanh thiếu niên dưới 19 tuổi chưa được tiêm chủng
  • Một số đối tượng có quan hệ tình dục không lành mạnh:
    • Những người hoạt động tình dục không có mối quan hệ chung thủy một vợ một chồng lâu dài (ví dụ: những người có nhiều hơn một bạn tình trong 6 tháng qua)
    • Những người đang điều trị bệnh lây nhiễm qua đường tình dục
    • Nam quan hệ tình dục đồng giới
  • Những đối tượng có nguy cơ bị nhiễm trùng do tiếp xúc trực tiếp với máu
    • Những người tiêm chích ma tuý
    • Những người sống chung với bệnh nhân nhiễm vi-rút viêm gan B
    • Những người được chạy thận nhân tạo
    • Những người mắc bệnh tiểu đường từ 19–59 tuổi (những người mắc bệnh tiểu đường từ 60 tuổi trở lên nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước).
  • Người bị bệnh gan mạn tính
  • Người nhiễm HIV
  • Những người đang ở trong nhà tù

6. Điều trị viêm gan B cấp tính như thế nào?

Không có thuốc điều trị viêm gan B cấp tính. Đối với những người có các triệu chứng nhẹ, các bác sĩ thường khuyên bạn nên nghỉ ngơi, dinh dưỡng đầy đủ. Những người có các triệu chứng nghiêm trọng hơn có thể phải nhập viện.

Để giải quyết rủi ro và lợi ích của việc điều trị trong bối cảnh viêm gan B cấp tính, điều quan trọng trước tiên là phải phân biệt giữa các mức độ nghiêm trọng khác nhau của nhiễm viêm gan B cấp tính:

  • Nhiễm HBV nhẹ không có biểu hiện lâm sàng.
    • Nhiễm HBV không triệu chứng mà không tăng men gan hoặc vàng da.
    • Nhiễm HBV không triệu chứng với tăng gan , nhưng không có vàng da.
  • Nhiễm viêm gan B cấp tính từ trung bình đến nặng với biểu hiện lâm sàng.
    • Nhiễm HBV với vàng da, nhưng không có hoặc chỉ suy giảm đông máu nhẹ.
    • Viêm gan cấp tính nặng: viêm gan cấp tính và có rối loạn đông máu với chỉ số về thời gian đông máu INR tăng lên > 1,5.
    • Suy gan cấp/viêm gan tối cấp: viêm gan cấp tính và sự hiện diện của rối loạn đông máu và bệnh não gan. Suy gan cấp tính có thể được phân biệt tùy thuộc vào khoảng thời gian từ khi bắt đầu vàng da đến khi khởi phát bệnh não gan như sau: siêu cấp (<7 ngày), cấp tính (7-28 ngày) và bán cấp (<26 tuần, nhưng hơn 4 tuần)

Nói chung, để điều trị bệnh viêm gan cấp tính nặng, điều quan trọng là phải hành động nhanh chóng – lý tưởng là trước khi khởi phát bệnh não gan. Đối với một số loại viêm gan tối cấp khác, can thiệp sớm hơn có nhiều khả năng ngăn ngừa tử vong ở người bệnh hoặc một khi các dấu hiệu của bệnh não gan xuất hiện, nên cân nhắc đến việc cấy ghép và chuyển đến trung tâm cấy ghép.

Chưa có dự đoán mức độ nghiêm trọng của viêm gan B cấp tính, nhưng tuổi tác đã được báo cáo là có liên quan đến việc này, minh chứng là tình trạng vàng da xảy ra thường xuyên hơn ở những người lớn tuổi.

Ngoài ra, các yếu tố liên quan đến việc không có hoặc giảm chỉ số HBeAg có thể dẫn đến bệnh nặng hơn chẳng hạn như vi-rút chứa các đột biến ở nhân hoặc thụ thể. Trong một nghiên cứu nhỏ ở người Mỹ da đỏ, lạm dụng rượu và lạm dụng methamphetamine làm nghiêm trọng hơn bệnh lý viêm gan cấp tính.

>>> Xem thêm: Chữa Viêm Gan B Bằng Cây Chó Đẻ Hiệu Quả

6.1. Điều trị viêm gan B cấp tính không triệu chứng

Dùng Interferon điều trị viêm gan B cấp tính

Dùng Interferon điều trị viêm gan B cấp tính

Đối với nhiễm vi rút viêm gan B, điều trị có thể được sử dụng để làm giảm tiến trình của bệnh hơn là để ngăn ngừa nhiễm trùng mạn tính bằng cách nghỉ ngơi và bổ sung dinh dưỡng đầy đủ, nâng cao miễn dịch và thể lực… Chỉ một số ít bệnh nhân bị viêm gan B cấp tính có thể phát triển bệnh nghiêm trọng hơn thậm chí gây tử vong. 

Đối với bệnh nhân bị viêm gan B cấp tính nhẹ, chưa cần đến chỉ định điều trị kháng vi-rút để cải thiện quá trình điều trị, vì những bệnh nhân này không có triệu chứng và liệu pháp kháng vi-rút sẽ không mang lại lợi ích gì rõ ràng. Do đó, người ta có thể sử dụng liệu pháp điều hòa miễn dịch như interferon làm tăng tỷ lệ thanh thải HBsAg ở những bệnh nhân này.

Interferon-alpha là một loại protein tự nhiên được tạo ra trong cơ thể bởi các tế bào bạch cầu để chống lại nhiễm trùng do vi rút. Ngoài tác dụng chống vi rút trực tiếp, interferon còn hoạt động chống lại vi rút viêm gan B bằng cách kích thích hệ thống miễn dịch của cơ thể để loại bỏ vi rút. Giảm đáng kể tải lượng vi rút hoặc loại bỏ DNA vi rút ra khỏi máu xảy ra ở 25% -37% số người trong quá trình điều trị.

Các xét nghiệm máu về chức năng gan bình thường hóa ở khoảng 23% -39% những người được điều trị bằng interferon hoặc interferon pegylated. Những người có bất thường đáng kể về chức năng gan trước khi điều trị có nhiều khả năng đáp ứng với điều trị hơn.

Kết quả sinh thiết gan cho thấy sự cải thiện ở khoảng một phần ba số bệnh nhân. Đáp ứng duy trì (không phát hiện được tải lượng virus trong máu, xét nghiệm chức năng gan bình thường) xảy ra ở khoảng dưới một phần ba số bệnh nhân sau khi ngừng thuốc. 

Tuy nhiên, Interferon lại gây ra một số tác dụng phụ bao gồm:

  • Một số triệu chứng giống cúm này xảy ra ở khoảng 80% bệnh nhân được điều trị như mệt mỏi, đau nhức cơ toàn thân, sốt, ớn lạnh và chán ăn. 
  • Thay đổi tâm trạng, trầm cảm, lo lắng và các tác động tâm thần kinh khác cũng có thể xảy ra khi dùng interferon
  • Bất thường tuyến giáp dẫn đến suy giáp (tình trạng khi mà quá ít hormone tuyến giáp)
  • Ức chế đáng kể tủy xương và giảm sản xuất các tế bào máu
  • Nhiễm trùng
  • Có thể bị rụng tóc
Tác dụng phụ của Interferon

Tác dụng phụ của Interferon

Trong quá trình điều trị, phản ứng miễn dịch với vi rút bị kích thích và có thể gây ra tình trạng viêm nặng hơn ở gan, trong một số trường hợp hiếm gặp, phản ứng mạnh hơn có thể gây ra suy gan. Như vậy, các bác sĩ sẽ phải theo dõi sát sao xét nghiệm máu trong quá trình trị liệu. Những người bị bệnh gan không ổn định do xơ gan thường không nên dùng interferon vì làm tăng nguy cơ suy gan.

>>> Xem thêm ngay: Triệu Chứng Suy Gan Cấp Tính Và Cách Điều Trị Như Thế Nào

6.2. Điều trị viêm gan B có triệu chứng cấp tính kèm theo vàng da

Lamivudine điều trị viêm gan B cấp tính

Lamivudine điều trị viêm gan B cấp tính

Để điều trị viêm gan B cấp tính có kèm theo các triệu chứng, các thuốc có cấu trúc tương tự nucleoside/nucleotide sẽ được sử dụng. Các chất tương tự nucleoside / nucleotide (NA) là các hóa chất nhân tạo bắt chước các nucleoside và nucleotide được sử dụng để tạo ra DNA.

Khi vi rút cố gắng sử dụng các chất tương tự để tạo ra DNA của chính nó,các thuốc này sẽ tác động vào quá trình này khiến vi-rút không thể nhân lên được. Một số thuốc loại này bao gồm adefovir (Hepsera), entecavir (Baraclude), lamivudine (Epivir -HBV, Heptovir, Heptodin), telbivudine (Tyzeka) và tenofovir ( Viread ).

Một số nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của thuốc. Nhóm nghiên cứu từ Ấn Độ đã đánh giá lợi ích của lamivudine trong viêm gan B cấp tính, bao gồm những bệnh nhân bị viêm gan B cấp tính nặng được xác định là xuất hiện 2 trong 3 tình trạng sau: bệnh não gan, bilirubin huyết thanh> 10,0 mg/dl, và INR của rối loạn đông máu>1,6 cho thấy khả năng phục hồi nhanh hơn ở 31 bệnh nhân được điều trị bằng lamivudine so với 40 bệnh nhân được dùng giả dược.

Một kết quả trong một nghiên cứu khác ở Trung Quốc trên 80 bệnh nhân bị viêm gan B cấp tính nặng với bilirubin cao gấp 9 lần giới hạn trên của mức bình thường và INR từ 1,4 đến 1,6. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tử vong cao hơn ở bệnh nhân của nhóm chứng so với nhóm được điều trị bằng lamivudine. Vì vậy, về tổng thể, có bằng chứng tốt để hỗ trợ điều trị kháng vi-rút ở những bệnh nhân bị viêm gan B cấp tính nặng được chỉ định khi có dấu hiệu suy giảm chức năng gan. 

Tuy nhiên, trong trường hợp không có rối loạn đông máu, liệu pháp kháng vi-rút hiện không được khuyến cáo. Và vi rút viêm gan B có thể trở nên kháng NAs theo thời gian. Adefovir có thể có hiệu quả đối với các chủng vi rút đã trở nên đề kháng với lamivudine và có thể được thêm vào lamivudine khi xuất hiện tình trạng kháng thuốc. Việc chuyển từ NA này sang NA khác không được khuyến khích vì điều này dẫn đến các chủng virus có khả năng kháng nhiều loại thuốc.

Như vậy, viêm gan B cấp tính mặc dù với tỉ lệ xảy ra thấp nhưng lại đem đến nhiều nguy cơ cho sức khỏe, tính mạng người bệnh. Thông qua bài viết này, mong rằng bạn đã hiểu được sự nguy hiểm của bệnh này. Và nếu có bất kì thắc mắc nào cần giải đáp về các vấn đề liên quan đến bệnh lý gan, hãy liên hệ với THteashop chúng tôi thông qua HOTLINE 1800 6091 để được tư vấn đưa ra giải pháp tốt nhất cho sức khỏe của bạn.

Chia sẻ bài viết


DMCA.com Protection Status
You cannot copy content of this page
Contact Me on Zalo
1800 6091