Xơ Gan Có Mấy Giai Đoạn Và Giai Đoạn Nào Gây Biến Chứng Nguy Hiểm

[banner id="7762"]

Xơ Gan Có Mấy Giai Đoạn Và Giai Đoạn Nào Gây Biến Chứng Nguy Hiểm

Việt Nam là quốc gia có tương đối nhiều ca mắc bệnh gan nói chung, đặc biệt là bệnh xơ gan. Hơn 8 triệu bệnh nhân bị viêm gan, xơ gan hoặc ung thư gan được ghi nhận ở nước ta mỗi năm. Điều nguy hiểm là những triệu chứng ban đầu của bệnh xơ gan thường không rõ ràng, bệnh nhân đa phần không biết xơ gan có mấy giai đoạn và chủ quan không đi khám để đến giai đoạn bệnh đã có những biến chứng nặng dẫn đến khó khăn cho việc điều trị về sau.

1 Khái niệm xơ gan là gì-xơ gan có mấy giai đoạn

Xơ gan là một bệnh mãn tính gây tổn thương gan nghiêm trọng, đặc trưng bởi sự phát triển mạnh mẽ của các mô xơ, đồng thời cấu trúc của các tiểu thùy gan và mạch máu bị đảo lộn không thể phục hồi, dẫn đến cấu trúc bất thường của các khối tăng sinh (nodules).

Những năm trở lại đây và dự báo trong thời gian tới, bệnh có khuynh hướng tăng lên do việc nhiễm các virus viêm gan B, C, D và tình trạng sử dụng rượu bia tăng ở nhiều khu vực của các châu lục. Ước tính mỗi năm có khoảng 800.000 trường hợp chết vì xơ gan.

xơ gan có mấy giai đoạn

Xơ gan là gì?

Từ hình thái của các khối xơ tăng sinh, người ta chia bệnh xơ gan thành 3 giai đoạn:

Gan xơ với các khối tăng sinh nhỏ (Micronodular) hay còn gọi là xơ gan cửa: Các mô xơ thường có kích thước < 3mm với các vách ngăn mỏng và đều. Điển hình của loại này là xơ gan do rượu (xơ gan Lannec).

Gan xơ với các khối tăng sinh to (Macronodular) còn gọi là xơ gan sau hoại tử: Các khối có kích thước khác nhau.

Gan xơ thể hỗn hợp (Mixed): bao gồm cả khối tăng sinh nhỏ và khối tăng sinh to. Theo thời gian, một số khối xơ nhỏ có thể thành các khối xơ to hơn.

2 Phân loại xơ gan theo lâm sàng xơ gan có mấy giai đoạn

Xơ gan giai đoạn 1

Giai đoạn 1 và giai đoạn 2 được coi là xơ gan còn bù

Ở giai đoạn đầu, bệnh xơ gan thường khó phát hiện do không có dấu hiệu tổn thương. Tuy nhiên, lúc này gan đã bị viêm nhiễm lâu ngày và bắt đầu hình thành sẹo nhằm tìm cách đẩy lùi tình trạng viêm nhiễm.

Giai đoạn đầu bệnh nhân có thể gặp một số triệu chứng: Cảm thấy cơ thể mệt mỏi, thiếu năng lượng, thỉnh thoảng thấy đau ở hạ sườn phải. Nếu bệnh xơ gan giai đoạn đầu được phát hiện và điều trị kịp thời thì gan vẫn có thể hoạt động bình thường trở lại.

Xơ gan giai đoạn 2

Khi các mô sẹo được hình thành nhiều hơn, giai đoạn này gan đã bắt đầu xuất hiện những tổn thương nhất định. Chức năng gan bị suy yếu dẫn tới khả năng đào thải chất độc ra khỏi cơ thể kém.

Người bệnh có thể cảm nhận rõ các triệu chứng của xơ gan: Các triệu chứng giống ở giai đoạn 1, vàng da, vàng mắt (nhưng chưa rõ ràng), nước tiểu sẫm màu, hay bị chảy máu mũi và chảy máu chân răng.

Giai đoạn này người bệnh vẫn có thể được điều trị khỏi nếu được xác định và loại bỏ đúng nguyên nhân gây xơ gan kết hợp với phương pháp điều trị phù hợp.

Xơ gan giai đoạn 3

Xơ gan giai đoạn 3 và 4 được coi là xơ gan mất bù.

Giai đoạn này lá gan của người bệnh bây giờ đã có những tổn thương khá nghiêm trọng. Bên cạnh đó chức năng gan rối loạn làm xuất hiện cổ trướng (tình trạng dịch tích tụ trong ổ bụng).

Giai đoạn sẽ xuất hiện các triệu chứng: Chán ăn, cơ thể mệt mỏi, sụt cân không kiểm soát, rối loạn tiêu hóa, vàng da, ngứa da, đường huyết thay đổi thất thường, nhịp tim nhanh, trướng bụng, phù chân và mắt cá, nặng có thể phù toàn thân.

Từ xơ gan giai đoạn 3 việc điều trị đã trở nên khá khó khăn, bệnh nhân cần phải tuân thủ đúng theo phác đồ điều trị của bác sĩ. Cần có chế độ ăn uống, sinh hoạt và nghỉ ngơi phù hợp để kiểm soát các triệu chứng.

Xơ gan giai đoạn 4 (giai đoạn cuối)

Ở giai đoạn cuối, tình trạng xơ hoá ở gan đã xảy ra gần như hoàn toàn. Người bệnh có thể phải đối diện với nhiều biến chứng nguy hiểm như xuất huyết tiêu hóa, bệnh não gan (còn gọi là hôn mê gan), tăng áp lực tĩnh mạch cửa và có thể là ung thư gan.

Các triệu chứng bệnh xơ gan giai đoạn cuối sẽ bao gồm hết những triệu chứng của các giai đoạn trước nhưng ở mức độ nặng hơn. Ngoài ra, bệnh nhân còn có thể gặp phải một số tình trạng sau:

  • Thường xuyên cảm thấy buồn ngủ, thậm chí có thể gặp tình trạng hôn mê do não bị nhiễm độc.
  • Suy thận gây tiểu ít, khó khăn khi đi tiểu
  • Tình trạng ứ đọng dịch trong ổ bụng làm tăng nguy cơ vỡ tĩnh mạch thực quản.

Xơ gan giai đoạn cuối chỉ có thể làm chậm quá trình phát triển của bệnh hoặc chờ ghép gan mới có thể kéo dài sự sống chứ không có phương pháp điều trị khỏi. Giai đoạn cuối bệnh nhân có thể tử vong sau 12 tháng. Do đó việc phát hiện và điều trị xơ gan sớm nhất có thể là phương án tốt nhất.

>>>Xem thêm: Xơ Gan Giai Đoạn Cuối Tiến Triển Như Thế Nào

3 Triệu chứng lâm sàng của xơ gan có mấy giai đoạn.

Về mặt lâm sàng, căn cứ vào có triệu chứng xơ gan cổ trướng có thể chia làm hai thể:

3.1 Xơ gan còn bù có mấy giai đoạn

Xơ gan còn bù là khi gan bị tổn thương do mô xơ hình thành nhưng vẫn hoạt động với đủ các chức năng của nó. Xơ gan còn bù thường được coi như giai đoạn đầu của bệnh xơ gan và thường ít gây ra các triệu chứng. Nếu có, các triệu chứng cũng rất khó phát hiện và dễ nhầm với các bệnh khác.

Triệu chứng cơ năng có thể gặp

Mệt mỏi, giảm cân, chán ăn: Khi các tế bào gan bị viêm, chức năng gan suy giảm dẫn đến việc chuyển hoá các chất dinh dưỡng bị ảnh hưởng. Khả năng cung cấp năng lượng cho cơ thể giảm, bệnh nhân bị chán ăn, mệt mỏi và giảm cân.

Các triệu chứng rối loạn tiêu hoá: Ăn không tiêu, đầy bụng, trướng hơi. bệnh nhân bị xơ gan khiến việc sản xuất mật để tiêu hóa thức ăn bị giảm sút nghiêm trọng gây các triệu chứng rối loạn tiêu hoá.

Tức nhẹ vùng hạ sườn phải: Hạ sườn phải là vị trí của gan, do vậy khi gan bị xơ sẽ gây ra tình trạng đau tức ở vùng này.

Chảy máu cam không rõ nguyên nhân. Gan có chức năng tổng hợp các yếu tố đông máu, khi gan bị tổn thương gây tình trạng rối loạn đông máu dẫn đến chảy máu cam. 

Triệu chứng thực thể

Có thể xuất hiện tình trạng vàng da, vàng mắt: Gan bị tổn thương, bilirubin không được đào thải tại gan và bị ứ đọng trong cơ thể dẫn tới vàng da.

xơ gan có mấy giai đoạn

Dấu hiệu vàng da, vàng mắt khi bị xơ gan

Giãn các mao mạch dưới da: Dưới dạng tĩnh mạch chân chim hoặc sao mạch, thường hay gặp ở cổ, mặt, lưng, ngực. Gan có thể to ra, đặc hoặc cứng, có các cạnh sắc và lá lách nhấp nhô bên dưới bờ rìa.

Theo thời gian, mức độ tổn thương của gan sẽ ngày càng nghiêm trọng và gây ra nhiều biến chứng. Vì vậy, việc phát hiện và điều trị sớm là rất quan trọng để làm chậm tiến triển của bệnh và phục hồi chức năng gan.

3.2 Xơ gan mất bù

Xơ gan mất bù (thường biểu hiện là cổ trướng, gọi tắt là xơ gan cổ trướng) được định nghĩa là gan bị tổn thương rộng, chủ yếu là xơ hóa và không còn khả năng thực hiện các chức năng của nó. Xơ gan mất bù là giai đoạn sau của bệnh xơ gan, biểu hiện của nó rõ ràng hơn so với xơ gan còn bù.

Ở giai đoạn này, người bệnh cũng dễ gặp phải những biến chứng nguy hiểm, trong đó có ung thư gan.

Hội chứng suy tế bào gan

  • Cơ thể gầy sút, ăn kém.
  • Xuất huyết dưới da.
  • Chảy máu cam hoặc có thể chảy máu chân răng.
  • Có thể có sốt: Tế bào gan bị hoại tử, chức năng thải độc của gan bị suy giảm. Độc tố tích tụ trong cơ thể gây nhiễm khuẩn và sốt nhẹ.
  • Vàng da từ nhẹ đến nặng.
  • Phù hai chi: phù mềm, ấn lõm. Xơ gan gây giảm máu đến các cơ quan trong đó có thận, làm kích hoạt hệ thống RAA (Renin-Angiotensin-Aldosteron). Tăng tái hấp thu muối và nước tại thận gây phù.
  • Gan nếu sờ thấy, có mật độ cứng.

Hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa – xơ gan có mấy giai đoạn

Cổ trướng (là hiện tượng bụng của bệnh nhân phình to ra do ứ đọng dịch hoặc tràn dịch màng bụng). Cổ trướng có thể gặp từ mức độ vừa đến mức độ rất to.

Xơ gan có mấy giai đoạn

Dấu hiệu cổ trướng ở bệnh nhân xơ gan

Tuần hoàn bàng hệ cửa chủ: Các mô xơ chèn ép tĩnh mạch cửa, máu đi vào các nhánh phụ và đổ vào tĩnh mạch chủ trên hay chủ dưới.

Lách to, giới hạn ở độ I, độ II. Tuần hoàn qua gan bị cản trở do các mô xơ, máu có thể bị ứ lại ở tĩnh mạch cửa và ứ ngược trở lại các tĩnh mạch đến gan trong đó có tĩnh mạch lách. Sự ứ máu ở lách tăng dần dẫn tới lách to, do tăng áp lực trong lách.

Có thể có rối loạn về thần kinh và tâm thần: Run tay, chậm chạp, mất ngủ.

Giãn tĩnh mạch thực quản thường gặp với các mức độ khác nhau.

4 Nguyên nhân gây xơ gan có mấy giai đoạn

4.1 Nguyên nhân do viêm gan virus

Viêm gan virus B

Đây là nguyên nhân đứng đầu dẫn tới xơ gan. Virus viêm gan B ở trong cơ thể thời gian dài, chúng tấn công và phá huỷ những tế bào gan và làm tổn thương nghiêm trọng các tế bào gan. Sau đó, tại những vùng bị tổn thương sẽ hình thành sẹo, mô xơ rồi tạo thành xơ gan.

Tìm hiểu thêm về viêm gan virus B tại đây: Viêm gan virus B

Viêm gan C

Đây là một bệnh truyền nhiễm. Trong quá trình phát triển và gây bệnh, viêm gan virus C tấn công và huỷ hoại tế bào gan gần giống với virus viêm gan B. Khi không điều trị kịp thời các tế bào gan bị huỷ hoại và các mô xơ xuất hiện dẫn tới biến chứng xơ gan

Viêm gan virus D

Đây là một bệnh nhiễm trùng khiến gan bị viêm. Những tổ chức viêm này có thể làm chức năng gan bị suy giảm và hình thành nên các vấn đề ảnh hưởng tới gan lâu dài như xơ gan, ung thư gan.

>>>Xem thêm: Bệnh Xơ Gan Cổ Trướng –  Biểu Hiện, Nguyên Nhân Và Biện Pháp Điều Trị

4.2 Xơ gan do nghiện rượu 

Nghiện rượu là nguyên nhân chính chiếm > 90% các trường hợp xơ gan. Khi lý giải về ảnh hưởng của rượu bia đối với cơ thể, các chuyên gia cho rằng, rượu bia chứa nhiều ethanol (cồn). Sau khi vào cơ thể, ethanol sẽ đi vào gan theo máu và chuyển hóa thành acetaldehyde.

Chất độc này là nguyên nhân chính gây ra tình trạng viêm nhiễm và phá hủy tế bào gan. Khi sử dụng rượu bia với liều lượng, nồng độ cao trong một khoảng thời gian dài, lượng acetaldehyde nhiều sẽ gây suy gan.

Hiện nay, số người uống rượu bia ở nước ta đứng vào hàng đầu thế giới. Tình trạng này phản ánh tỷ lệ mắc bệnh xơ gan do rượu ở Việt Nam cao hơn nhiều nước khác, đặc biệt là xơ gan do rượu và xơ gan cổ trướng cũng ở mức cao.

xơ gan có mấy giai đoạn

Nghiện rượu là nguyên nhân cao dẫn đến xơ gan

4.3 Các nguyên nhân khác gây xơ gan- xơ gan có mấy giai đoạn

  • Nhiễm khuẩn: Sán máng (Schistosomiasis), giang mai, HIV gây viêm đường mật xơ hóa.
  • Các bệnh chuyển hóa, bệnh di truyền: Viêm gan do thoái hóa mô (nguyên nhân không do rượu), bệnh gan ứ đọng glycogen, bệnh gan xơ hóa dạng nang, tăng tyrosin, tăng glactose máu, không dung nạp đường Fructose.
  • Do bệnh đường mật: Mật bị ứ đọng lại gây ảnh hưởng và tổn thương tế bào gan dần dần sẽ dẫn đến xơ gan.
  • Do các bệnh tự miễn: viêm gan tự miễn, xơ gan mật tiên phát, viêm đường mật xơ hóa tiên phát.
  • Do bệnh mạch máu: Hội chứng Budd – Chiari, suy tim, thiếu máu.
  •  Do thuốc và nhiễm độc: Isoniazid, diclofenac.

5 Biến chứng xơ gan- xơ gan có mấy giai đoạn

Giãn vỡ tĩnh mạch thực quản gây xuất huyết tiêu hoá

Xuất huyết tiêu hoá là biến chứng hay gặp nhất do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản, tĩnh mạch phình vị. Đây là một biến chứng nặng, tỷ lệ xuất huyết và tử vong phụ thuộc vào mức độ của xơ gan.

biến chứng của xơ gan

Biến chứng giãn vỡ tĩnh mạch thực quản khi bị xơ gan

Bệnh lý não gan

Bệnh lý não gan là biến chứng thường gặp, thể hiện tình trạng thay đổi chức năng thần kinh ở người xơ gan. Biến chứng này ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống cũng như khả năng sống thêm của người bệnh.

Có nhiều yếu tố gây nên bệnh lý này, một phần do nồng độ amoniac trong máu cao (do gan không chuyển hoá hết) lượng amoniac này tồn đọng trong máu đi qua hàng rào máu não vào não và gây bệnh.

Hội chứng gan – thận (Hepato – Renal syndrome)

Hội chứng gan thận là tình trạng suy thận xuất hiện ở bệnh nhân xơ gan cổ trướng có creatinin > 1,5 mmol/dL, do xơ gan tuần hoàn nuôi dưỡng thận giảm sút, dẫn đến tình trạng suy thận cùng với suy gan. Có hai type:

Type 1: tiến triển trong vòng 2 tuần, creatinin > 2,5 mmol/dL 

–>  tiên lượng xấu.

Type 2: tiến triển chậm, thường liên quan đến chức năng gan và mức độ cổ trướng.

Hạ natri máu

Hạ natri máu gặp ở 20 – 30% bệnh nhân xơ gan và được khẳng định khi – nồng độ natri máu < 130 mEq/L xuất hiện trên bệnh nhân có cổ trướng. Tiên lượng ở bệnh nhân có biến chứng này thường là không tốt, bệnh nhân dễ đi vào hôn mê gan.

Nhiễm trùng dịch cổ trướng

Nhiễm trùng dịch cổ trướng cũng là một biến chứng thường gặp ở bệnh nhân xơ gan. Phần lớn là do tự phát và không phát hiện được đường vào. Vi khuẩn thường có nguồn gốc từ đường tiêu hóa của người bệnh, nuôi cấy thấy chủ yếu là E. Coli hoặc Streptococci nhóm D. Chẩn đoán xác định khi bạch cầu đa nhân trong dịch cổ trướng > 250/mm3.

Huyết khối tĩnh mạch cửa

Bệnh nhân xơ gan có khuynh hướng bị huyết khối ở các tĩnh mạch sâu, đặc biệt là hệ tĩnh mạch cửa. Có khoảng gần 40% bệnh nhân xơ gan có nguy cơ gặp biến chứng này, trong khi chảy máu tiêu hóa chỉ khoảng 10%.

Ung thư biểu mô tế bào gan – xơ gan có mấy giai đoạn

Xơ gan được coi là yếu tố nguy cơ đầu tiên gây ung thư gan nguyên phát. Có khoảng > 80% các trường hợp ung thư gan xuất hiện trên nền bệnh lý gan xơ.

6 Điều trị xơ gan có mấy giai đoạn

6.1. Chế độ ăn uống sinh hoạt

Ở giai đoạn còn bù:bệnh nhân có thể làm việc và sinh hoạt bình thường. Lưu ý tránh vận động mạnh, nên ăn nhạt và kiêng bia rượu

Giai đoạn mất bù nên nghỉ ngơi hoàn toàn: không sử dụng thuốc an thần và paracetamol. Đảm bảo bệnh nhân được cung cấp đầy đủ năng lượng 35-40 Kcal và 1,2 – 1,5g protein/kg cân nặng.

Nên cung cấp acid amin phân nhánh và đạm thực vật trong các bữa ăn (sữa và các chế phẩm từ thực vật). Người xơ gan rất nên có một bữa ăn tối trước khi đi ngủ tránh hạ đường huyết vào ban đêm.

6.2. Điều trị nguyên nhân

  • Xơ gan do virus viêm gan B: dùng các thuốc có khả năng ức chế virus như: lamivudin, entercavir, tenofovir.
  • Xơ gan do virus viêm gan C: có thể xem xét điều trị bằng Peginterferon kết hợp với Ribavirin cho các trường hợp xơ gan giai đoạn đầu.
  • Xơ gan rượu: bệnh nhân phải ngừng sử dụng rượu, có thể xem xét dùng corticoid.

6.3  Điều trị biến chứng

Bệnh lý não gan

Hạn chế protein trong chế độ ăn, làm sạch ruột (uống hoặc thụt Lactulose), kháng sinh (Neomycin, Rifaximin, Ciprofloxacin, Metronidazol).

Giãn vỡ tĩnh mạch thực quản

Thực hiện cầm máu qua nội soi, các thuốc tác động đến hệ vận mạch (Somatostatin, Octreotid, Terlipressin) hoặc có thể làm thông giữa hai hệ thống tĩnh mạch cửa và chủ (TIPS). 

Nhiễm trùng dịch cổ trướng

Sử dụng kháng sinh như Cefotaxim, Ciprobay, Rifaximin.

Hội chứng gan thận

Ngừng sử dụng thuốc lợi tiểu.

Dùng Huma albumin + Octreotid và Midodrin.

Terlipressin.

Giảm natri máu

Hạn chế dịch và nước.

Dịch muối ưu trương sử dụng đường tĩnh mạch.

Có thể cân nhắc dùng albumin.

Sử dụng thuốc ức chế receptor V2 (Lixivaptan, Satavaptan, Tolvaptan).

6.4 Điều trị dự phòng

Giãn vỡ tĩnh mạch thực quản: sử dụng thuốc ức chế B giao cảm,  thắt búi giãn qua nội soi.

Nhiễm trùng dịch cổ trướng: Ciprofloxacin, Cephalosporin thế hệ III. Bệnh lý não gan:dùng Lactulose dạng uống hoặc thụt.

6.5. Ghép gan

Cần có chỉ định của bác sĩ.

ghép gan khi có chỉ định của bác sĩ

Bệnh nhân được ghép gan khi có chỉ định của bác sĩ

Xơ gan giai đoạn còn bù khi phát hiện vẫn có khả năng điều trị khỏi. Nhưng khi chuyển sang giai đoạn mất bù, xơ gan giai đoạn 3,4 rất khó điều trị. Nhất là khi ở giai đoạn 4 không có phương pháp điều trị.

>>>Xem thêm: Điều Trị Xơ Gan Và Các Biến Chứng Của Bệnh Hiệu Quả Như Thế Nào

Nên đi kiểm tra sức khỏe thường xuyên, khi có những dấu hiệu của xơ gan nên đi khám sớm để có thể được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Trên đây là bài chia sẻ của các dược sĩ, bác sĩ THteashop về xơ gan có mấy giai đoạn, các biến chứng nguy hiểm của xơ gan. Để biết thêm nhiều kiến thức bổ ích về gan hãy liên hệ với chúng tôi qua hotline 18006091 để được tư vấn nhanh nhất.

Tham khảo thêm về xơ gan [Cirrhosis of the liver]

Chia sẻ bài viết


DMCA.com Protection Status
You cannot copy content of this page
Contact Me on Zalo
1800 6091